Lý luận nhận thức duy vật biện chứng

Một phần của tài liệu SLIDE MÔN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN TMU (Trang 188 - 200)

III. LÝ LUẬN NHẬN THỨC

2. Lý luận nhận thức duy vật biện chứng

a Nguồn gốc, bản chất của nhận thức

b Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

c Các giai đoạn của quá trình nhận thức

d Quan điểm của CNDVBC về chân lý

a. Nguồn gốc, bản chất của nhận thức

- Nguồn gốc của nhận thức

Thế giới vật chất tồn tại độc lập với ý thức của con người là nguồn gốc của nhận thức

- Bản chất của nhận thức

- Khái niệm nhận thức

Nhận thức sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người.

Bản chất của nhận thức là sự phản ánh tích cực, sáng tạo thế giới vật chất vào bộ óc con người.

- Nhận thức là một quá trình biện chứng có vận động và phát triển

Đó là quá trình đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít tới biết nhiều hơn. Nhận thức không phải một lần là xong, mà có phát triển, có bổ sung và hoàn thiện.

a. Nguồn gốc, bản chất của nhận thức

Các trình độ

của nhận

thức

căn cứ vào mức độ thâm nhập vào bản chất của đối tượng

căn cứ vào tính chất tự phát hay tự

giác

Nhận thức kinh nghiệm

Nhận thức lý luận Nhận thức thông

thường

Nhận thức khoa học

Trực tiếp  tri thức kinh nghiệm thông thường, hoặc khoa học

Gián tiếp  khái quát

được bản chất, QL của SV Tự phát, trực tiếp trong hoạt động hàng ngày

Chủ động, tự giácphản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính QL

 

- Nhận thức là quá trình tác

động biện chứng giữa

chủ thể và khách thể thông qua hoạt

động thực tiễn của con người.

Chủ thể nhận thức

Khách thể nhận thức

Chính là con người, con người hiện thực đang hoạt động thực tiễn và đang nhận thức trong những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể nhất định.

Chỉ là một bộ phận, một lĩnh vực của hiện thực khách quan

Khách thể nhận thức rộng hơn đối tượng nhận thức.

a. Nguồn gốc, bản chất của nhận thức

b. Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

Quan điểm trước Mác

Các nhà triết học DT cho hoạt động nhận thức, hoạt động của tinh thần  là hoạt động thực tiễn.

Các nhà triết học tôn giáo thì cho hoạt động sáng tạo ra vũ trụ của thượng đế là hoạt động thực tiễn.

Các nhà triết học DV trước Mác chưa hiểu đúng bản chất của thực tiễn cũng như vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.

Quan điểm của triết học Mác

Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất - cảm tính, có tính lịch sử -xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ nhân loại tiến bộ

*Phạm trù thực tiễn

- Đặc trưng của hoạt động thực tiễn

Hoạt động thực tiễn là hoạt động vật chất – cảm tính.

Là những hoạt động mang tính lịch sử - xã hội của con người

Là hoạt động có tính mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ con người

- Các hình thức hoạt động thực tiễn

Hoạt động

sản xuất vật chất Hoạt động

chính trị XH Hoạt động thực nghiện KH

Là hoạt động có sớm nhất, cơ bản nhất, quan trọng nhất. Vì không có nó thì xã hội không tồn tại và không có các hoạt động khác.

Là hoạt động thể hiện tính tự giác cao của con người nhằm biến đổi, cải tạo xã hội, v.v.. Như đấu tranh giai cấp…

Là hoạt động mà con người chủ động tạo ra những điều kiện không có sẵn trong tự nhiên để tiến hành thực nghiệm khoa học theo mục đích mà mình đã đề

KL: Các hoạt động TT có mỗi quan hệ lẫn nhau, trong đó HĐSXVC là quan trọng nhất

Thứ nhất, thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức.

Thực tiễn cung cấp những tài liệu, vật liệu cho nhận thức của con người.

Không có thực tiễn thì không có nhận thức, không có khoa học, không có lý luận.

Thực tiễn luôn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức, vì thế nó luôn thúc đẩy cho sự ra đời của các ngành khoa học.

Thực tiễn là cơ sở chế tạo ra các công cụ, phương tiện, máy móc mới hỗ trợ con người trong quá trình nhận thức.

Thực tiễn là động lực thúc đẩy nhận thức phát triển. Vì thực tiễn luôn vận động, phát triển  đòi hỏi trí tuệ của con người phải đi sâu nghiên cứu, mở rộng sự hiểu biết hiện có.

* Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

Ví dụ:

* Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

Thứ hai, thực tiễn là mục đích của nhận thức.

Nhận thức của con người là nhằm phục vụ thực tiễn, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn chứ không phải để trang trí…

 Mọi tri thức khoa học chỉ có ý nghĩa khi nó được áp dụng vào đời sống thực tiễn một cách trực tiếp hay gián tiếp để phục vụ con người.

* Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

Thứ ba, thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý

Thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để kiểm tra chân lý.

Dựa vào thực tiễn, người ta có thể chứng minh, kiểm nghiệm chân lý đó đúng hay sai.

* Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

Aistot Vật thể khác nhau về trọng lượng thì sẽ khác nhau về tốc độ rơi.

Galilê Vật thể khác nhau về trọng lượng nhưng cùng tốc độ khi rơi xuống.

 Tri thức đó có thể phản ánh đúng hoặc không đúng hiện thực và chúng ta không thể lấy tri thức để kiểm tra tri thức, hay sự tán thành của số đông hoặc sự có lợi để kiểm tra sự đúng, sai của tri thức mà phải lấy thực tiễn để kiểm tra chân lý.

Vì thực tiễn có nhiều hình thức khác nhau,có nhiều hình thức kiểm tra chân lý khác nhau, có thể bằng thực nghiệm khoa học, có thể áp dụng lý luận xã hội vào quá trình cải biến xã hội, v.v..

Cần phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý một cách biện chứng, tiêu chuẩn này vừa có tính tuyệt đối vừa có tính tương đối  tính tuyệt đối vì thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan để kiểm nghiệm chân lý  Tính tương đối vì thực tiễn luôn vận động biến đổi

Cần quản triệt quan điểm thực tiễnHoạt động nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, gắn với thực tiễn, học đi đôi với hành.

Một phần của tài liệu SLIDE MÔN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN TMU (Trang 188 - 200)

Tải bản đầy đủ (PPTX)

(329 trang)