Cơ sở chi phối đến cảm thức thời gian trong sáng tác thơ Nguyễn Trãi

Một phần của tài liệu Cảm thức thời gian trong thơ nguyễn trãi (Trang 21 - 28)

TRONG SÁNG TÁC THƠ NGUYỄN TRÃI

1.2. Cơ sở chi phối đến cảm thức thời gian trong sáng tác thơ Nguyễn Trãi

1.2.1. Điều kiện Lịch sử - xã hội chi phối đến cảm thức thời gian trong thơ Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, không thể phủ nhận vai trò đóng góp và những thành tựu to lớn mà Nguyễn Trãi gửi lại cho hậu thế. Riêng lĩnh vực văn chương, Nguyễn Trãi là một tên tuổi lớn của nền văn chương trung đại Việt Nam.

Không chỉ viết thư, thảo hịch tài giỏi, Nguyễn Trãi còn là một thi sĩ có tâm hồn rộng mở, dồi dào xúc cảm. Ông đã để lại cho chúng ta những tác phẩm văn thơ vô cùng quý giá, phản ánh những quan điểm tiến bộ trong nền văn học nước nhà. Có thể nói, cả quãng đời từ thuở thiếu niên “lừng lẫy tiếng Nho”của chàng thanh niên từng

“múa bút vung gươm” làm mềm gan tướng giặc cho đến khi về già với lời “tự bạch”: “Xềnh xoàng” làm “kẻ thôn nhân”, Nguyễn Trãi không quên ghi lại từng thời khắc của cuộc đời mình bằng nhiều cảm nhận khác nhau về hành trình “cỏ bồng cánh bèo” theo từng chặng đường cuộc đời nhà thơ đã đi qua.

Sáng tác thơ của Nguyễn Trãi không thể không chịu những chi phối, ảnh hưởng nhất định từ những yếu tố lịch sử, văn hóa xã hội thời đại ông đang sống.

Hẳn nhiên, trong suốt trên 300 bài thơ ở hai thi tập, từng mốc thời gian, từng chặng cuộc đời dù rơi vào hoàn cảnh “bi thời” hay “đắc thế” trong mỗi tâm trạng của nhà thơ đều được in nét trên từng thi phẩm.

Nguyễn Trãi sống và hoạt động trong thời đại có nhiều biến động của lịch sử Việt Nam. Chính trong bối cảnh lịch sử - xã hội này đã tác động mạnh đến cảm quan sáng tác nghệ thuật của ông. Sáu mươi hai năm cuộc đời, lớn lên, sống và làm việc dưới các triều đại, chứng kiến xã hội trải qua mọi biến thiên, đổi

thay, người nghệ sĩ Nguyễn Trãi đã ghi lại quảng đường đời đã qua bằng những vần thơ tâm trạng.

Khoảng thời gian sống 20 năm ở triều đại nhà Trần, chứng kiến cảnh quan triều cuối đời Trần sa đọa; 7 năm dưới triều nhà Hồ quyền lực, dốc sức cùng triều Hồ xây dựng đất nước lại dở dang; 20 năm tiếp theo bản thân ông phải chứng kiến cảnh điêu linh của bao “dân đen con đỏ” nằm trong tay giặc; 15 năm đầu triều nhà Lê, buổi đầu cùng bắt tay xây dựng với những “lộn xộn”, nghi kỵ gièm pha..., cuộc đời Nguyễn Trãi đi qua những thời đoạn, những chặng đường có cả vinh quang có cả những đắng cay chua chát.

Chính thời cuộc với những biến đổi lớn lao, tàn khốc như vậy đã ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm về thời gian của nhà thơ. Bởi, thời gian gắn liền với những khoảnh khắc này không chỉ đọng lại với những chiến công vang dội của thời đại vàng son, thời gian còn được cảm nhận qua những nỗi niềm ưu tư trước sự suy vi của thời đại. Đó không những là nỗi niềm nhớ tiếc qua khứ vàng son, là nỗi trăn trở đau đáu của chính tác giả phải bất lực trước sự suy thoái của lịch sử.

Nguyễn Trãi không chỉ chịu tác động từ điều kiện lịch sử - xã hội thời đại ông đang sống, mạch nguồn truyền thống văn hóa của gia đình mà ông hấp thụ từ bé cũng chính là sự ảnh hưởng không hề nhỏ trong mọi cảm thức của ông về không gian, thời gian, từ đó đã chi phối nhiều trong sáng tác thơ ông.

Nguyễn Trãi từng mơ nhiều về một xã hội “Dân Nghiêu Thuấn, vua Nghiêu Thuấn”, nhắc nhiều đến “Ngày Nghiêu Tháng Thuấn” là có lý. Vì ông từng tiếp thu một nền giáo dục có hệ thống và uyên bác cùng tư tưởng thân dân của ông ngoại và cha. Ông cũng từng sống một đời sống thanh bạch, giản dị, gần gũi nhân dân, thấu hiểu dân tình. Và hơn thế, ông được thừa hưởng, hấp thụ những truyền thống quý giá và cao đẹp của lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Nếu tính từ ngày đất nước giành lại độc lập sau hơn nghìn năm Bắc thuộc, thì Nguyễn Trãi là sự kết tinh những tinh hoa văn hóa thời đại, mà hai triều Lý và Trần là tiêu biểu... Hai triều đại này đã tạo nên một nền văn hoá Thăng Long rực rỡ, với hai mạch tư tưởng: tư tưởng yêu nước và tư tưởng nhân đạo. Nguyễn Trãi đúng là sự kết tinh những gì

đẹp đẽ, tinh túy, tinh hoa nhất của văn hóa thời đại, có sự kết hợp với thực tiễn đất nước hồi đầu thế kỷ XV.

Trong mỗi bước ngoặt của lịch sử, Nguyễn Trãi đã tỉnh táo tìm ra lẽ phải, tìm ra hướng đi đúng, lẽ sống đúng. Lịch sử luôn đặt Nguyễn Trãi trước ngã ba đường lựa chọn. Lần thứ nhất, chàng thanh niên với cả “rừng Nho” hăm hở vào đời:

“Thanh niên phương dự ái Nho lâm” có dòng dõi với triều Trần đã quyết chọn con đường ra làm quan với triều Hồ để mong có cơ hội trỗ tài kinh bang tế thế. Đó là một sự lựa chọn rất khó khăn, nhiều thử thách nhưng cũng rất quyết liệt đầy mạnh mẽ của ông. Lần thứ hai, nên theo cha để bảo toàn chữ hiếu hay về lại quê nhà để gạt nước mắt “rửa hờn cho nước trả thù cho cha. Và ông cũng đã lựa chọn trong sự khó khăn. Từ biệt cha nơi ải Nam Quan trở về trong tâm niệm “rửa hờn”, Nguyễn Trãi ẩn mình mười năm ở thành Đông Quan trong những hoàn cảnh rủi ro, nghiệt ngã: “No nước uống, thiếu cơm ăn” (QÂTT). Lần thứ ba, ẩn nhẫn chờ thời, Nguyễn Trãi “hững hờ” với các cuộc khởi nghĩa chống giặc Minh của các lãnh tụ nhà Trần để đi tìm minh chủ Lê Lợi cũng là một sự lựa chọn đầy cân não. Hình ảnh vị minh chủ Lê Lợi với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn mà Nguyễn Trãi chọn lựa dấn thân đã trở thành hình ảnh đẹp thể hiện khá rõ trong bài thơ Hạ Quy Lam Sơn trong Ức Trai thi tập. Quãng thời gian nơi núi rừng Lam Sơn cùng minh chủ “nếm mật nằm gai há phải một hai sớm tối”, “múa bút vung gươm” được xem là quãng thời gian mà Nguyễn Trãi thể hiện rất nhiều tâm đắc.Sáu mươi hai năm trọn một cuộc đời vẫn không ngừng đặt ông trong nhiều thời điểm phải chọn lựa. Lần thứ tư, Nguyễn Trãi đau đớn nhận ra lòng người trước “cửa quyền hiểm hóc”: “Bể hiểm nhân gian ai kẻ biết/ Ghê thay biến bạc thành đen” (QÂTT). Lại đặt ông trong sự lựa chọn mới: Về hay ở? xuất thế hay nhập thế?... Tưởng chừng đơn giản, nhưng không, đó lại là cả một vấn đề không dễ để chọn lựa.

Nguyễn Trãi từng ví mình như chim Phượng, chim Bằng với đường bay chín vạn dặm, với cả tấc lòng tận hiến: “Say hết tấc lòng Hồng Hộc” ( QÂTT), tinh thần nhập thế của ông luôn khẳng định “hừng hực như lò luyện đơn”, làm sao ông có thể dễ dàng xuất thế về cố lý Côn Sơn để vui với “hạc rừng vượn núi”

một cách thanh thản! Lựa chọn này đã trở thành niềm đau đớn trong lòng ông: “Lấy đâu xuất xử trọn hai bề” (QÂTT). Quyết định lựa chọn về Côn Sơn ca khúc “Quy khứ lai từ” của Nguyễn Trãi lần này cũng là một sự lựa chọn giằng xé đầy giông bão trong lòng ông.

Dường như những giá trị tinh túy nhất của thời đại lịch sử đã hội tụ nơi Nguyễn Trãi. Bản thân ông đã hiểu rõ và nắm chắc quy luật vận động của lịch sử, kết hợp sự tự vận động bản thân mình trong cuộc sống trong từng thời điểm lịch sử hợp lý, biết đi tìm lẽ sống đúng, biết tự đổi mới theo hướng đi lên để thực hiện ước muốn xây dựng một đất nước theo kiểu “Ngày Nghiêu tháng Thuấn”. Tuy nhiên, khát vọng giữa lý tưởng và hiện thực hóa lý tưởng là điều không dễ và không bao giờ như ý. Bi kịch xảy ra với nhà Nho Nguyễn Trãi là điều không tránh khỏi.

1.2.2. Mạch nguồn văn hóa và truyền thống gia đình Nguyễn Trãi

Nhà nho Ngô Thế Vinh là một trong số những người rất ngưỡng mộ Nguyễn Trãi. Trong bài Tựa viết năm Minh Mệnh thứ 6, ông nói gia đình có một ảnh hưởng không nhỏ đối với quá trình trưởng thành của Nguyễn Trãi: “Tiên sinh chi học, xuất ư gia đình, nhi tinh thâm không thoát chính đại cương phương, nãi kỳ độc đắc. Cố vô tâm ư văn chương, nhi phát chi ư ngôn, tắc anh hoa hùng bất kiểu kỳ trước tác, trực mô phỏng Ngu Hạ. Kỳ bình sinh ngâm vịnh, cùng nhi kiện, lão nhi tráng” (Học của tiên sinh là học ở gia đình. Nhưng phần tinh vi, sâu sắc, bao quát đại thể, là ở mình. Chính vì thế mà không để tâm đến văn chương, cứ nói ra là văn chương, thể thức y như thời cổ.

Bình sinh ngâm vịnh càng cùng càng thấy kiện, càng già càng thấy tráng). Văn hóa truyền thống gia đình là mạch nguồn đầu tiên ảnh hưởng tới sự hình thành nhân cách, thế giới quan và nhân sinh quan của Nguyễn Trãi.

Nguyễn Trãi sinh năm 1380, tại Thăng Long, trong dinh ông ngoại là quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Tổ tiên Nguyễn Trãi vốn ở xã Chi Ngại, huyện Phượng Sơn (nay là huyện Chí Linh, Hải Dương), sau dời về làng Nhị Khê, Thường Tín, Hà Nội.

Trong sự trưởng thành của Nguyễn Trãi, những người ảnh hưởng đến ông nhiều nhất là ông ngoại và thân phụ Nguyễn Phi Khanh. Thân mẫu ông là bà Trần Thị Thái mất sớm nên ông sống với ông ngoại và cha. Hoàn cảnh đó đã khiến cho mối quan hệ ảnh hưởng giữa Nguyễn Trãi với ông ngoại và cha trở nên bền chặt, sâu sắc mạnh mẽ và có nhiều ảnh hưởng sâu sắc đến cảm quan nghệ thuật của Nguyễn Trãi.

Trong lịch sử dân tộc, Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh là hai trí thức mang tư tưởng thân dân. Tư tưởng ấy đã được họ gửi gắm vào thơ ca, qua bao năm tháng vẫn khiến lòng người xúc động. Trần Nguyên Đán là quan lớn của triều Trần.

Ông sống vào giai đoạn suy vi của triều đại. Bằng sự nhạy cảm trước những diễn biến của thời cuộc nên ông thường không tránh khỏi những băn khoăn, ưu tư với thế sự. Ông thường đặt mình vào trong sự phản tỉnh, tự vấn, rồi cảm thấy thẹn vì thấy đã không hoàn thành được hoài bão an dân mà thuở bình sinh từng ấp ủ:

Tam vạn quyển thư vô dụng xứ Bạch đầu không phụ ái dân tâm.

(Nhâm dần niên lục nguyệt tác) (Đọc ba vạn cuốn sách mà thành vô dụng,

Bạc đầu luống phụ lòng thương dân)

(Thơ làm vào tháng sáu năm Nhâm dần - 1362 ) Đọc thơ ông, chúng ta bắt gặp những trạng thái tình cảm khác nhau. Ông suy ngẫm về cuộc đời dâu bể, những Mịch La, Xích Bích... rồi cũng vùi trong gió bụi:

Mịch La, Xích Bích giai trần thở, Tảo vãn quy phàm phỏng cố san.

(Đông Triều thu phiếm) (Mịch La, Xích Bích đều đã vùi trong gió bụi,

Sớm muộn sẽ quay thuyền về hỏi thăm non xưa)

(Mùa thu thả thuyền ra chơi ở Đông Triều) Ông cảm thán tình cảnh thân mình bạc đầu mà áo vẫn còn nhuốm bụi trần (Tống Long Nham quy Diễn Châu). Ông nhận ra chốn thị thành không phải nơi dành cho hoa cúc, loài hoa coi thường sương tuyết, mang cả khí mạnh và tài năng của trời đất: Càn khôn túc khí dữ lương năng (Mai thôn đề hình dĩ “Thành Nam đối cúc” chi tại kiến thị, nãi thú kỳ vận)... Trải nghiệm và chứng nghiệm mọi diễn biến của thời cuộc, ông trách mình bất lực, cười mình không bằng ông Tiền Nhược Thuỷ (người đời Tống, làm quan tới chức Đồng tri xu mật, sau xin từ chức) khi cáo quan về hưu ở tuổi bốn mươi: Tự tiếu bất như Tiền Nhược Thuỷ / Niên tài tứ thập tiện hưu quan (Mậu thân chính nguyệt tác).

Tư tưởng Trần Nguyên Đán luôn có sự giằng co giữa hai lối ứng xử, đó là

“về” hay “ở”. Ở lại nơi triều chính, ông biết mình sẽ chẳng làm được gì cho muôn

dân bớt lầm than. Về với mây ngàn hạc nội, ông lại không hi vọng tâm hồn mình được thư thái. Cuối cùng, Côn Sơn là nơi được ông lựa chọn làm chốn “cởi buồn”.

Ở Côn Sơn, trong vai một dật dân, ông tháng ngày “làm bạn cùng chiếu trúc” (Quân trung tác), nhìn “mây tụ trước hiên”, nghe “suối reo bên gối” (Đề Sùng Hư lão túc)...

Phong thái này, nhân cách này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự lựa chọn cách sống về sau cho Nguyễn Trãi. May mắn, từng có những năm tháng ấu thơ sống cùng ông ngoại Trần Nguyên Đán ở Côn Sơn, nơi “làm bạn cùng chiếu trúc” này đã định hình ở Nguyễn Trãi một lối sống “nhàn cư” trong quãng thời gian làm dật dân nơi Côn Sơn “cố lý”.

Ảnh hưởng của nhà nho Trần Nguyên Đán đối với Nguyễn Trãi diễn ra bằng nhiều con đường khác nhau. Ở khía cạnh ảnh hưởng trực tiếp, đó là sự dạy dỗ hàng ngày của ông. Ở khía cạnh gián tiếp, đó là sức hấp dẫn từ chính nhân cách cao thượng và vẻ đẹp thi ca của ông. Nguyễn Trãi là một người thông minh, tinh anh bộc phát từ bé nên không khó để cảm nhận và thụ hưởng những giá trị văn hóa đó.

Trong Băng Hồ di sự lục, Nguyễn Trãi hào hứng ôn lại những năm tháng tuổi thơ được sống cùng ông ngoại nơi non nước Côn Sơn thanh sạch. Ở đó, Nguyễn Trãi đã được ông ngoại dạy dỗ, gieo vào tâm hồn những hạt giống tư tưởng nhân sinh tích cực. Không thể phủ nhận nhân cách cao đẹp, tư tưởng ái dân của Nguyễn Trãi có mầm mống và được bắt nguồn từ ông ngoại Trần Nguyên Đán !

Nguyễn Trãi cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ người cha của mình – nhà nho Nguyễn Phi Khanh. Theo tiểu sử, ông là một người học rộng, tài cao nhưng bất đắc thời thế. Ông đỗ Tiến sĩ dưới thời Trần Nghệ Tông nhưng không được triều đình trọng dụng. Mãi đến năm 1400, khi Hồ Quý Ly lập ngôi vương, ông mới có điều kiện bước chân vào chốn quan trường. Tuy nhiên, quãng đời làm quan của ông diễn ra ngắn ngủi, bị giặc Minh bắt đưa về Trung Quốc (1407) rồi mất ở đó. Khát vọng giúp đời ở Nguyễn Phi Khanh không nhỏ. Có thể thấy, ở ông luôn phải đối mặt với những lựa chọn rất khó khăn. Khát vọng cao, chí khí lớn mãnh liệt, cao cả nhưng khả năng để hiện thực hóa của Nguyễn Phi Khanh rất thấp. Hệ quả, ông lâm vào tình trạng bất lực, lòng thường hay buồn bực, xót xa. Trong bài thơ Xuân hàn, ông giãi bày ước vọng:

An đắc thử thân đồng thác dược, Hoà phong hư biến cửu châu tâm.

(Mong sao thân này được như cái ống bễ,

Thổi ngọn gió hoà vào khắp lòng người chín châu) (Rét mùa xuân)

Thơ Nguyễn Phi Khanh buồn nhưng không hề là tiếng thơ tuyệt vọng.

Những ước mơ tốt đẹp ông gửi vào thơ, dẫu những ước mơ kia là không tưởng, nhưng tấm lòng của nhà thơ đối với nhân dân vẫn là đáng quý và tiếng thơ chứa chan tình cảm nhân đạo ấy vẫn luôn có giá trị vững bền.

Có thể nói, trong mối quan hệ gia đình, Nguyễn Phi Khanh là sự tiếp nối tự nhiên những gì mà Trần Nguyên Đán đã đem đến cho Nguyễn Trãi, tạo những tiền đề thuận lợi cho sự phát triển tư tưởng, nhân cách về sau. Thuở thiếu thời, Nguyễn Trãi đã có nhiều năm tháng sống với cha, chịu sự giáo dục của cha. Đó là lúc ông ngoại Trần Nguyên Đán mất, Nguyễn Trãi trở về Nhị Khê sống cùng cha. Năm 1400, Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) dưới triều Hồ, cùng cha theo phò Hồ Quý Ly. Ông cũng đã từng theo cha lên biên giới, rồi nghe lời cha trở về tìm cách “rửa nhục cho nước, trả thù cho cha”. Trải qua những chặng đường như vậy, cho thấy, Nguyễn Trãi đã“theo cha” trên nhiều phương diện khác nhau của cuộc sống, nhất là phương diện lí tưởng yêu nước thương dân.

Hai nhân sĩ trí thức thời Trần - ông ngoại và cha với nhân cách cao thượng, với tư tưởng thân dân là nguồn mạch văn hóa quý giá tác động trực tiếp và ảnh hưởng sâu sắc đến nhân cách, tư tưởng, cảm quan sáng tác nghệ thuật của Nguyễn Trãi. Truyền thống gia đình chính là cái nôi đầu tiên nuôi dưỡng tâm hồn và nhân cách Nguyễn Trãi. Nó tự nhiên nên sâu sắc, nó di truyền nên bền vững.

Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh là hai nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm Nguyễn Trãi. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, trong sâu xa, Nguyễn Trãi có thừa hưởng truyền thống gia đình, gia tộc. Dòng họ Nguyễn của ông vốn nổi tiếng từ lâu, thời nào cũng có người tài giỏi và nhân cách. Cũng cần thấy rằng, Nguyễn Trãi được hấp thụ nền văn hóa Nho giáo còn nhiều yếu tố tích cực vốn có của thời Trần. Những nhân tố này đã ảnh hưởng lớn đến cảm quan sáng tác trong hai thi tập ƯTTTQÂTT.

Một phần của tài liệu Cảm thức thời gian trong thơ nguyễn trãi (Trang 21 - 28)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(94 trang)
w