TRONG SÁNG TÁC THƠ NGUYỄN TRÃI
Chương 2 CÁC KIỂU CẢM THỨC THỜI GIAN
2.2. Ứng xử của nhà thơ trước các kiểu thời gian
Đọc thơ Nguyễn Trãi có thể hình dung khá rõ dòng tâm sự và tình cảm của kẻ sĩ trải qua một giai đoạn lịch sử nhiều rối ren, biến cố... Ở phương diện nào, Nguyễn Trãi cũng có những ứng xử hài hòa, đúng mực. Khi quốc gia có sự: “Quốc gia hưng vọng, thất phu hữu trách”; lúc đối mặt với thế sự, cần lẽ “hành tàng”, Nguyễn Trãi đều làm tròn chức phận kẻ sĩ, biết nhập thế và xuất thế dẫu có dùng dằng day dứt.
Ở Nguyễn Trãi, bên cạnh những tháng ngày “đắc thế” với khí thế “múa bút vung gươm” còn có những chuỗi dài buồn đau, cô thế: “Đất phàm cõi tục lánh xa”, thiếu người tri kỷ: “Người tri âm vắng, cầm nên lặng” (QÂTT)… Nguyễn Trãi luôn nhìn mọi sự vật bằng cái nhìn suy xét, ngẫm ngợi, tự vấn chính mình. Vốn là người “tiên ưu hậu lạc”, ông thường xuyên tự nhắc nhở, chất vấn bản thân. Từng làm
“chim bằng” vượt lên chín vạn dặm, làm “hồng hộc” với “say hết tấc lòng”, làm
“trúc đứng hiên mai quét tục trần”..., vậy mà ông chưa hề bằng lòng với những cống hiến. Tự chất vấn mình là điều thường thấy trong thơ ông: “Bằng tôi nào thuở ích chưng dân?” (Trần tình, bài 37).
Điều đáng trân trọng nhất trong những vần thơ giàu cảm xúc của Nguyễn Trãi chính là thái độ ứng xử của ông trước sự trôi chảy của thời gian. Không vô tình, cũng không hờ hững, nhà Nho Nguyễn Trãi luôn đặt trong sự suy nghiệm, phân tích, liên tưởng đến lẽ thịnh suy hưng phế của thời cuộc. Đứng trước vẻ đẹp hùng vỹ nơi cửa biển Bạch Đằng, bao thi nhân ca hát về dòng sông lịch sử. Riêng Nguyễn Trãi đặt trong chiều sâu suy nghiệm:
Quan hà bách nhị do thiên thiết, Hào kiệt công danh thử địa tằng.
(Quan hà hiểm hai người chống trăm người do trời xếp đặt Hào kiệt lập công danh đất ấy từng là nơi)
Nguyễn Trãi liên tưởng đến mối quan hệ tương hỗ không thể thiếu giữa “địa linh” và “nhân kiệt”. Địa thế núi sông hiểm trở đã gia tăng sức mạnh cho con người trong cuộc chiến chống kẻ thù; ngược lại, con người bằng chiến công hiển hách đã làm cho giang sơn thêm phần hiển hách. Chưa kể, Bạch Đằng giang đẹp muôn thuở
vì nơi đây đã lưu giữ bóng dáng người anh hùng vệ quốc, khơi dậy cho người đời sau cảm xúc ngẫm suy.
Những đợt sóng cao mười trượng nơi cửa biển Thần Phù (Thần Phù hải khẩu)đã kéo thi nhân liên tưởng về quá khứ ngẫm suy; Cớ sao, cũng từng cùng nhân dân lấy đá lấp ngả sông để chống giặc ngoại xâm mà người thắng kẻ bại!
Cũng chính nơi đây, cớ sao cha ông xưa cũng từng cùng nhân dân lấy đá lấp ngả sông chống giặc thành công, còn Nhà Hồ cũng kế hoạch này nhưng đành cam thất bại. Phải chăng, lẽ hưng phế thời cuộc còn có vai trò của lòng dân yên thuận:
Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ, Lâm lưu phủ ảnh ý nan thăng.
(Quay đầu xem việc cũ, ôi xong rồi,
Cúi xuống dòng mò bóng, ý nói khôn xiết)
Toàn bộ thi phẩm của Nguyễn Trãi là tất cả những suy nghiệm của một con người đa tài túc trí luôn ngẫm suy trước vạn vật, thế sự. Người nghệ sĩ với trái tim mẫn cảm luôn luôn phát hiện những hiện tượng biến đổi khôn lường và tìm kiếm những chân lý của cuộc sống mà chưa có bất cứ ai tìm được. Vì thế, trong thơ, Nguyễn Trãi luôn thể hiện nỗi niềm thao thức khôn cùng, với biết bao dấu hỏi về cuộc đời hiện hữu, về những suy tưởng quá khứ với hiện tại và tương lai.
Trong sáng tác văn chương thời trung đại, các kiểu thời gian suy tư, hoài niệm mang tính chất triết lí về cuộc đời và thế sự cũng được các nhà thơ, nhà văn vận dụng linh hoạt nhằm bộc lộ tư tưởng, tình cảm của mình. Theo dòng chảy thời gian, nhà thơ vừa ý thức rất rõ trách nhiệm của con người công danh tích cực cống hiến cho đất nước nhưng đồng thời cũng nhận ra được sự phù du của công danh phú quý, sự đổi thay của tình đời. Vì thế, trong những áng thơ của Nguyễn Trãi cũng bắt đầu cho sự hiện diện tự ý thức cá nhân. Bởi, con người trong thơ ông đã không ngừng soi rọi bản thân, không ngừng hoài niệm, tiếc nuối những gì đẹp đẽ, huy hoàng đã qua, đồng thời, cảm nhận sâu sắc về những biến đổi của cuộc đời và về hạnh phúc đích thực của đời người.
Xuyên suốt hai tập thơ là sự đan xen các dòng cảm xúc thể hiện cảm thức trước thời gian của nhà thơ. Mang tâm trạng ở những quãng đường đời dù “đắc thế”
hay “yếm thế”, Nguyễn Trãi vẫn luôn có những dòng tâm tưởng hoài niệm, suy tư.
Đọc thơ ông, vừa mới gặp người nghệ sĩ Ức Trai đâu đó trong những vần thơ đầy cảm xúc hào sảng trước thế núi hình sông gấm hoa nước Việt, lại lắng sâu với một Nguyễn Trãi mang nỗi niềm tiếc nuối suy tư, luyến tiếc thời gian trôi qua, suy tư, hoài niệm về quá vãng; Lại có khi vừa mới gặp ông già dật dân “Say lểu thểu đứng đường thông” lại chợt nhận ra người khát khao cuộc sống, đánh thức khát vọng sống, khát vọng tuổi trẻ và tình yêu: “Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm” (Thơ tiếc cảnh)…
2.2.2. Hồi tưởng từng chặng đường đã qua
Theo sự vận động dòng chảy của lịch sử, những âm hưởng vút cao trước những chiến thắng hào hùng của dân tộc cũng dần dần lắng dịu, những phút giây tâm tưởng với nhiều cung bậc cảm xúc hỉ, nộ, ái, ố cũng qua đi, duy chỉ có lòng người vẫn không ngừng suy ngẫm, hoài niệm nhớ nhung, luyến tiếc. Hồi tưởng, hoài niệm thời gian qua với bao điều còn mất như một lẽ tự nhiên được Nguyễn Trãi dành nhiều cảm hứng.
Không thể là ngẫu nhiên khi sáng tác thơ chữ Hán thi nhân Nguyễn Trãi thường khắc khoải về thời gian đã qua bằng những cụm từ với con số cố định “thập niên tiền định”, “tam thập niên tiền”, “ngũ thập niên”, “thập niên thanh ngọc”, “thời niên thiếu”, “thuở tóc xanh”… Cách định danh như vậy cho thấy nhà thơ dù ở thời điểm nào vẫn có tâm thế hồi tưởng về thời gian đã qua. Sự hồi tưởng ấy chính là sự thôi thúc nhà thơ luôn tự vấn mình về những điều đã thực hiện và chưa thành công trên suốt cuộc đời.
Trong thơ Nguyễn Trãi, sự lặp lại các cụm từ chỉ thời gian hoài niệm khá nhiều (Thập niên phiêu chuyển thán bồng bềnh; Tam thập niên tiền hồ hải thú;
Thập niên thanh ngọc chức hồ băng; Thập niên thân cựu tận tiêu ma; Thập tải bần thư tòng đáo cốt, Tiếc thiếu niên qua lật hẹn lành; Cầm đuốc chơi đêm bởi tiếc xuân; Thuở triều cường; Thuở tóc xanh, Ngày Nghiêu tháng Thuấn, Giấc Hòe, Giấc điệp Hoàng lương …). Như một chủ ý, Nguyễn Trãi nhắc đi nhắc lại các mốc thời gian như một hoài niệm về thời gian đã qua trong sự suy ngẫm, trăn trở.
Thơ của Nguyễn Trãi được viết trong nhiều thời điểm khác nhau của cuộc đời ông. Thời trai trẻ với “thập niên phiêu chuyển”, thân phận tựa “cỏ bồng cánh bèo”, Nguyễn Trãi luôn mang tâm trạng của người lữ khách, suy tư, nhung nhớ chốn quê nhà. Hồn thơ thi nhân có khi trắc ẩn theo cánh nhạn xa bầy hay khắc khoải trong tiếng mưa đêm rả rích (Thính vũ). Bởi vậy, mọi đối tượng trong thế giới tự nhiên dường như đều có thể trở thành vật gợi nhớ đối với thi nhân, nhìn bức họa
“Chim núi gọi người” nơi chốn triều quan mà Ức Trai cứ ngỡ tiếng chim gọi mình vọng lại từ miền cố lý Côn Sơn, để rồi đêm đêm khắc khoải mơ về vườn xuân cũ:
“Mộng hồi nghi thị cố viên xuân” (Đề sơn điển hô nhân đồ) (Ngỡ là mộng trở về cảnh xuân vườn cũ); Một áng mây trôi lững lờ chốn xa cũng gợi trong lòng thi nhân bao cảm xúc ưu tư da diết: “Ngàn dặm xem mây nhớ quê” (Báo kính cảnh giới, bài 28); Nghe tiếng mưa rơi, ông cũng chạnh lòng thổn thức về miền quê cũ: “Cố viên quy mộng tam canh vũ” (Ký hữu) (Mộng trở về vườn cũ mưa suốt ba canh)... Quả thật, trong lòng thi nhân luôn ẩn chứa nỗi niềm khôn nguôi sâu sắc về những khoảnh khắc đi qua trong cuộc đời với những hoài niệm cái đã qua và cái trước mắt đang đến.
Tâm hồn của nhà thơ nhạy cảm Nguyễn Trãi luôn nặng lòng suy tư, trăn trở.
Từ chốn triều quan, nhìn thời gian trôi qua, nhà Nho Nguyễn Trãi lại hướng về quê cũ với giấc mơ “ba dặng cúc”, “ngũ hồ xuân” thảnh thơi như Đào Tiềm, Phạm Lãi thuở nào. Rồi khi đã đặt chân nơi mảnh đất Côn Sơn làm bạn với mây ngàn gió núi, lòng Nguyễn Trãi lại lưu luyến chốn kinh thành trong nỗi niềm khắc khoải: “Thiên nhai khẳng niệm cố nhân phù” (Nơi chân trời ấy biết ai có còn nhớ đến ta).
Đó chính là dòng tâm sự trước sau duy nhất của nhà thơ, nó đi vào trong hết thẩy mọi ý thơ của ông, làm thành nỗi thao thức vô hình hay hữu hình; nó tạo nên những hình tượng bất hủ, những tấm lòng son, những đôi mắt mở to trong đêm dài...
Và ở Nguyễn Trãi, đằng sau sự phóng khoáng là một con người đầy trách nhiệm với xã hội. Bên ngoài vẻ ngoài lãnh đạm, thờ ơ, đặt mình ngoài thế, Nguyễn Trãi vẫn không giấu được khát vọng trí quân trạch dân với một tấc lòng son đầy nhiệt huyết.
Và tất cả hình tượng ấy chung đúc thành một con người cụ thể, con người Ức Trai, con người có tầm suy nghĩ sâu rộng và không thể nhầm lẫn với bất
kì con người nào trong lịch sử cũng như trong văn học. Đó cũng chính là hệ quả dẫn Nguyễn Trãi đến trạng thái “nhàn thân” nhưng chẳng “nhàn tâm” và trong suốt cuộc đời ông, dường như luôn đặt ông trong sự hoài niệm suy tư ở từng khoảnh khắc.
Toàn bộ thi phẩm của Nguyễn Trãi là tất cả suy nghiệm của một con người luôn luôn băn khoăn trước vạn vật, luôn luôn phát hiện những hiện tượng biến đổi khôn lường và tìm kiếm những chân lý của cuộc sống mà chưa có bất cứ ai tìm được. Vì thế, trong thơ của người nghệ sĩ ấy luôn là nỗi niềm thao thức khôn cùng, với biết bao dấu hỏi về cuộc đời. Đó cũng chính là điểm khác biệt giữa Nguyễn Trãi với những thi sĩ khác, một Ức Trai nhập thế với đường bay chín dặm luôn “Say hết tấc lòng hồng hộc”.
2.2.3. Tận hưởng những phút giây nhàn nhã
Thơ Nguyễn Trãi không chỉ đến với người đọc bằng những phút giây say đắm của thực tại, một thực tại suy nghiệm sâu sắc, mà những vần thơ giản dị ấy còn mang đến biết bao ấm nồng của tình người, tình đời về quan niệm nhân sinh tích cực về lẽ sống hài hòa mực thước giữa cuộc đời. Nguyễn Trãi luôn có những ứng xử hài hòa, tự cân bằng mọi hình thái cuộc sống trước thời gian hiện thực.
Nguyễn Trãi luôn thiết tha, khao khát sống hết mình vì cuộc đời. Vẫn biết thời gian như “kẻ” vô tình trôi đi mà chẳng bao giờ đứng đợi; Ngoảnh đầu nhìn lại, thoắt đã là quá khứ, thuở nào… Hiểu được điều đó nên ông chẳng lo sợ thời gian trôi. Thay vào đó ông luôn ý thức và trân trọng thời gian. Người nghệ sĩ Ức Trai luôn tỏ ra bình thản trước sự trôi đi vô tình của thời gian trôi chảy. Xét đến cùng, biểu hiện bình thản của Nguyễn Trãi là hệ quả tất yếu của một trái tim nhạy cảm và yêu đời nồng nhiệt và nắm rõ quy luật cuộc đời trong muôn sự biến thiên. Bản thân ông ý thức rất rõ quy luật tất yếu của thời gian và thời gian chẳng thiên vị cho bất cứ ai nên ông thấy cần phải yêu những gì trước mắt thay vì nghĩ ngơi và tính toán với thời gian. Vậy nên, thay vì lo sợ,ông chấp nhận quy luật tất yếu của dòng đời, quên đi nỗi ám ảnh mà sống thật vui, thật có ý nghĩa và tận hưởng thời gian ngắn ngủi mong manh hữu hạn của kiếp người.
Trong thơ chữ Hán và chữ Nôm, Nguyễn Trãi dành một mảng thơ không nhỏ nói về cảm hứng thanh nhàn thực sự của ông trước thời gian sinh hoạt, đời thường
nơi không gian trong lành thanh khiết “không gợn bụi trần”. Tận hưởng niềm vui khoáng đạt ấy, nhà Nho nghệ sĩ Ức Trai có lúc đóng cửa phòng văn, lắng nghe tiếng chim cuốc kêu, ngắm nhìn hoa xoan nở dưới cơn mưa phùn:
Nhàn trung tận nhật bế thư trai, Môn ngoại toàn vô tục khách lai.
Đỗ Vũ thanh trung xuân hướng lão, Nhất đình sơ vũ luyện hoa khai.
(Mộ xuân tức sự) (Trong lúc nhàn nhã suốt ngày khép cửa phòng văn, Ngoài cửa không có một khách tục nào tới.
Trong tiếng cuốc kêu, xuân sắp tàn,
Đầy sân mưa phùn nhẹ rơi khi hoa xoan đang nở.) Phải thực sự yêu đời, thiết tha với đời và trái tim mẫn cảm lắm thi nhân mới lắng nghe và lặng nhìn một cách tinh tế tiếng cuốc kêu và chùm hoa xoan rơi trong mưa bụi trong thời khắc cuối xuân.
Cũng có khi Cụ bơi thuyền con trên dòng suối để thăm chùa trên núi, cảm nhận hết tất thẩy cái thanh vắng, lặng lẽ của cảnh thiền môn nơi núi rừng trong buổi chiều tà, để rồi hốt nhiên chợt ngộ. Bài thơ khép lại bằng cái không lời – “vô ngôn”.
Đoản trạo hệ tà dương,
Thông thông yết thượng phương.
Vân quy thiền tháp lãnh, Hoa lạc giản lưu hương.
Nhật mộ viên thanh cấp, Sơn không trúc ảnh trường.
Cá trung chân hữu ý, Dục ngữ hốt hoàn vương.
(Du sơn tự)
( Mái chèo ngắn buộc trong bóng chiều tà, Xăm xăm lên thăm cảnh chùa trên núi.
Mây kéo về khiến giường thiền lạnh,
Họa rụng xuống làm cho dòng suối thơm.
Chiều tối tiếng vượn kêu gấp, Núi vắng bóng trúc ngã dài.
Trong đây quả có bao tình ý, Muốn nói bỗng lại quên.)
Thấy cái dằng dặc của thời gian vũ trụ, thấy cái mong manh ngắn ngủi của đời người nhưng không vì thế mà Ức Trai buồn rầu, chán chường. Người nghệ sĩ ấy chọn cách chấp nhận một cách bình thản khi đã biết chấp nhận quy luật, biết sống trọn vẹn giây phút tươi đẹp trước mắt. Vậy nên, không dừng lại ở những áng thơ chữHán, trong thơ Nôm, Nguyễn Trãi cũng đã “chạy đua” với thời gian để sống trọn từng khoảnh khắc, đôi khi đó là những khoảnh khắc bình dị nhất, an nhàn nhất của nhà thơ.
Trước thời gian sinh hoạt đời thường, thời gian nhàn nhã, Nguyễn Trãi dành những ứng xử thật thanh cao. Có khi thi nhân ngồi hóng mát suốt ngày dưới bóng cây hòe cổ thụ và nhìn cảnh vật thiên nhiên xung quanh đổi thay hay chỉ để lắng nghe tiếng thì thầm của âm thanh cuộc sống:
Rỗi hóng mát thuở ngày trường, Hoè lục đùn đùn tán rợp trương.
(Báo kính cảnh giới - bài 43) Cũng có khi một mình uống trà dưới ánh trăng hoặc đọc sách:
Chè mai đêm nguyệt dậy xem bóng, Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu.
(Ngôn chí, 2) Ngày vắng xem chơi sách một an.
(Ngôn chí, 16) Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén, Ngày vắng xem hoa bả cây.
(Ngôn chí, 10)
Vũ trụ vẫn chuyển động như vốn dĩ thời gian vẫn trôi, cuộc sống vẫn cứ tiếp diễn. Với sự thức tỉnh ý thức cá nhân sâu sắc, Nguyễn Trãi luôn sống hết mình, tận
hưởng những thú vui thanh nhã trong từng khoảnh khắc. Đôi khi nhìn cảnh vật trong sắc xuân tươi, nhà thơ bất chợt tiếc xuân xanh đã đi qua, rồi cũng đành bất lực:
Tiếc thiếu niên qua lật hạn hành, Hoa hoa nguyệt nguyệt luống vô tình.
(Tích cảnh, bài 4) Xuân xanh chưa dễ hai phen lại,
Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên
(Tích cảnh, bài 3) Với một người luôn nhìn cuộc sống tích cực như Nguyễn Trãi dù đứng trước quy luật bất biến của tạo hóa, tuổi cao, râu, tóc bạc cũng không thể ngăn nổi đôi mắt và tâm hồn mãi xanh để có thể nhìn thấu đời:
Tuổi cao, tóc bạc, cái râu bạc, Nhà ngặt, đèn xanh, con mắt xanh
(Tự thán, bài 29)
Tiểu kết chương 2
Cuộc đời Nguyễn Trãi đã trải qua nhiều thăng trầm của nhiều biến cố lịch sử.
Nhiều dòng tâm trạng nổi bật được thể hiện trong hai tập thơ theo các dòng chảy thời gian. Biểu hiện của sự hoài niệm về những quãng thời gian gắn với từng chặng đường cuộc đời của nhà thơ là thời gian vũ trụ gắn với thế núi hình sông, “thời gian đắc thế”, “thời gian yếm thế” và thời gian hoài niệm trong sự suy tưởng về quá khứ, hiện tại, thời gian sinh hoạt đời thường với tháng ngày quạnh vắng… Có thể hiểu, đó là các kiểu thời gian mang nhiều tâm trạng và các cảm xúc thăng trầm của người nghệ sĩ Ức Trai.
Từ nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu khác nhau về Nguyễn Trãi, người đọc bao thời đại xưa nay có thể nhận ra nỗi đau u uẩn sâu xa, bi kịch cuộc đời ông.
Nhưng, nếu cảm nhận được những bài thơ, câu thơ với dòng chảy thời gian hoài niệm đầy ám ảnh của chính nhà thơ thì có lẽ không khó để hiểu đầy đủ hơn về những chặng đường đời mang nặng màu tâm sự mà Ức Trai đã đi qua.