Hệ thống hình ảnh thể hiện cảm thức thời gian trong thơ

Một phần của tài liệu Cảm thức thời gian trong thơ nguyễn trãi (Trang 64 - 73)

THỜI GIAN TRONG THƠ NGUYỄN TRÃI

3.1. Hệ thống hình ảnh thể hiện cảm thức thời gian trong thơ

Sáng tạo hình ảnh mang nghĩa biểu trưng hay biểu tượng thẩm mĩ là một yêu cầu của nghệ thuật nói chung. Yêu cầu này đã được đặt ra từ lâu trong lịch sử nghệ thuật nhân loại, trong mỗi nền văn học. Trong thơ ca Nguyễn Trãi, bên cạnh những hình ảnh cụ thể, sinh hoạt mang hơi thở ấm áp với vòng tuần hoàn của thời gian sáng, trưa, chiều, tối hay cặp thời gian đối lập xuân – thu, đông – hè,... là những hình ảnh thơ được tạo nên mang nghĩa biểu trưng.

Trước Nguyễn Trãi, từ thời cổ đại, các triết học như Heraclit, Khổng Tử cũng đã từng mượn những hình đó khi nói về sự biến thiên của thời gian: “Thệ giả như tư phù, bất xả chú dạ” (Khổng Tử) và “Con người không bao giờ tắm hai lần trên một dòng sông” (Heraclit). Kế thừa những hình ảnh đó, Nguyễn Trãi cũng đã mượn những hình ảnh biểu trưng đó để đưa vào những áng thơ của mình khi nói về sự trôi chảy của thời gian.

Cơ sở để tạo nên những hình ảnh mang nghĩa biểu trưng trong thơ Nguyễn Trãi là hiện thực khách quan, gồm thế giới các hiện tượng tự nhiên, thế giới các vật thể nhân tạo và con người. Hầu hết, khi sử dụng đến những hình ảnh mang ý nghĩa biểu trưng về các cảm thức thời gian, Nguyễn Trãi đã sử dụng khéo léo và tinh tế những hình ảnh đặc biệt, mang nghĩa biểu trưng quen thuộc với quy chuẩn của thơ ca trung đại.

Trong sáng tác thơ ca trung đại, không ít tác giả sử dụng hình ảnh mang nghĩa biểu trưng khi nhắc đến giấc mộng Hoàng Lương hay giấc Nam Kha…

Những hình ảnh này đều mang ý nghĩa về sự vinh hoa, phú quý, công danh, hạnh phúc nhưng những điều tốt đẹp ấy tưởng chừng thật, lại hóa ra chỉ là giấc mộng.

Trong cổ thi, các thi gia thường nhìn nhận thời gian trôi qua như giấc mộng: Trăm năm một giấc kê vàng. Trong "Cung oán ngâm khúc", Nguyễn Gia Thiều đặt mình vào vị thế của người cung nữ ngẫm thời gian trôi: Giấc Nam Kha khéo bất bình/

Bừng con mắt dậy, thấy mình tay không; Trăm năm nào có gì đâu/ Chẳng qua một

nấm có khâu xanh rì…Tú Xương lại ngẫm ngợi cuộc đời mình đặt trong sự “Lạc đường” cũng nhận ra cái “chập chờn” của thời gian: Giấc mộng Nam Kha khéo chập chờn. Và trong những áng thơ của người nghệ sĩ Ức Trai, chúng ta bắt gặp các dòng thời gian khi được tác giả ngẫm suy về lẽ tồn tại, hư danh trong cuộc đời:

Táp tải hư danh an dụng xứ, Hồi đầu vạn sự phó Nam Kha.

(Loạn hậu cảm tác) (Cái hư danh trong ba mươi năm có được gì đâu,

Quay đầu nhìn lại, muôn việc phó cho giấc mộng Nam Kha.) Nhà thơ ngẫm ngợi về cuộc đời:

Thế thượng hoàng lương nhất mộng dư, Giác lai vạn sự tổng thành hư.

Như kim chỉ ái sơn trung trú, Kết ốc hoa biên độc phụ thư.

(Ngẫu thành) (Cuộc đời giống như sau giấc mộng kê vàng, Tỉnh dậy muôn việc đều thành hư không.

Nay ta chỉ thích ở trong núi,

Làm nhà lá bên hoa, đọc sách của cha để lại)

Trước hết, để diễn tả đời người gắn với những quãng thời gian có ý nghĩa đặc biệt gắn với tuổi trẻ, ước mơ, công danh, hạnh phúc..., Nguyễn Trãi thường ví von dòng chảy thời gian như một giấc mộng: Giấc Hoàng lương, giấc Kê vàng, Kiến cành hòe… Đây là những hình ảnh mang nghĩa biểu trưng, thể hiện cuộc đời trôi nhanh, đi qua không trở lại.

Để diễn tả thời gian đi qua đọng lại trên tuổi tác con người, thi sĩ nhà Nho thường sử dụng hình ảnh “tóc xanh”, “đầu bạc”, “tuổi thiếu niên”, “mái tóc bạc”,

“đôi mắt xanh”, “cái râu bạc”… bộc lộ cảm xúc tiếc nuối thời gian chóng tàn, chưa kịp thực hiện hết những hoài bão từng ấp ủ…

Nhờ sử dụng những hình ảnh mang nghĩa biểu trưng, Nguyễn Trãi đã xây dựng được những hình tượng thơ rất sinh động, ý thơ thanh thoát, trang nhã, súc tích,... Từ đó tạo cho ý thơ mang giá trị biểu đạt và biểu cảm cao, vừa góp phần

giúp nhà thơ bày tỏ chí hướng, đồng thời kín đáo bộc bạch những tâm sự bản thân.

Diễn tả những đổi thay của mỗi cuộc đời con người trước dòng chảy thời gian, Nguyễn Trãi mượn hình ảnh của dòng nước chảy, một áng mây trôi hay có khi là hình ảnh con thuyền để nói đến cái trôi chảy của thời gian trước cuộc thế. Hình ảnh thuyền và nước là những hình ảnh quen thuộc trong ca dao cũng như trong thơ trung đại. Tuy nhiên, chưa có ai trước đó lại thể hiện những hình ảnh này mang ý nghĩa triết học thâm sâu như Nguyễn Trãi. Thuyền, nước hay áng mây trôi tưởng chừng như là những vật vô tri, vô giác nhưng qua cảm thức của nhà thơ, nó đã trở thành những biểu tượng nghệ thuật thể hiện sự trôi chảy của thời gian.

Khảo sát những hình ảnh trong hai thi tập, kết quả cho thấy trong tập thơ chữ Hán, Nguyễn Trãi sử dụng hình ảnh con thuyền (12 lần), dòng nước (3 lần), áng mây trôi (3 lần)... Trong tập thơ chữ Nôm, nhà thơ cũng đã sử dụng hình ảnh con thuyền (12 lần), dòng nước (3 lần), áng mây trôi (12 lần)… Tất cả những hình ảnh đó đã được Nguyễn Trãi sử dụng trong hai tập thơ với tần số khá cao nhằm mục đích diễn tả những cảm nhận đời người trước dòng chảy thời gian.

Dòng nước là một hình ảnh mang tính biểu tượng cho dòng chảy thời gian đã được nhắc đến trong thơ ca trước. Nhưng đến với Nguyễn Trãi thì hình ảnh dòng nước đã được ông vận dụng một cách sáng tạo, sắc sảo:

Trường thiên mạc mạc thủy du du, Hoàng lạc sơn hà thuộc mộ thu.

Tiện sát sa biên song bạch điểu, Nhân gian lụy bất đáo Thương châu.

(Vãn lập)

(Trời bao la vắng lặng, nước trôi man mác, Lá vàng rụng khắp núi sông, báo cảnh thu tàn. Lòng thèm được như đôi chim trắng bên bãi cát,

Cái lụy nhân gian không đến được chỗ ở của bậc ẩn sĩ.) Nguyễn Trãi đã rất nhạy bén và tinh tế hơn khi cho lồng ghép vào đó một quan niệm mới mẻ đó chính là mượn hình ảnh dòng nước để nói về sự trôi chảy của dòng thời gian. Không chỉ mượn hình ảnh dòng nước chảy mà ông còn mượn cả áng mây trôi để nói đến sự luân chuyển một đi không trở lại của thời gian ví như,

Du Sơn tự”,“Quan duyệt thủy trận”,... Nhà thơ ví cuộc đời của mỗi con người trôi nổi không phương hướng như áng mây ngoài kia: Nhãn trung phù thế tổng phù vân.

(Mạn thuật)(Trong mắt, cuộc đời nổi trôi tất cả như đám mây nổi).

Nghĩ về đường công danh, sự nghiệp, Nguyễn Trãi xem như áng mây trôi: “Danh thơm một áng mây nổi”

(Thuật hứng, bài 18) Hình ảnh dòng nước hay áng mây trôi được nhà thơ thể hiện trong mỗi bài thơ là để diễn tả nhịp điệu sinh học của thời gian vũ trụ đồng thời cũng muốn nhấn mạnh rằng: thời gian vũ trụ là tuyệt đối, vĩnh hằng, trong khi đó thời gian của một đời người là tương đối, hữu hạn. Con người hoàn toàn bất lực trước bước đi của thời gian và luôn có nguy cơ bị cuốn đi, bị chìm đi trong dòng chảy của thời gian.

Nguyễn Trãi còn mượn hình ảnh con thuyền để làm hình ảnh biểu tượng cho thời gian. Khảo sát với 12 lần sử dụng hình ảnh biểu trưng con thuyền trong tập thơ chữ Hán, cho thấy Nguyễn Trãi sử dụng hình ảnh biểu trưng là một chủ ý nhấn mạnh của nhà thơ. Người nghệ sĩ muốn khẳng định bước đi của thời gian, sự vận động của thời gian một cách rõ ràng và chính xác:

Độ đầu xuân thảo lục như yên, Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên.

Dã kính hoàng lương hành khách thiểu, Cô chu trấn nhật các sa miên.

(Trại đầu xuân độ) (Cỏ xuân ở bến dồ đầu trại xanh như khói,

Lại thêm có mưa xuân, nước vỗ vào nền trời.

Đường đồng nội vắng tanh, ít người đi lại,

Con thuyền đơn chiếc gác đầu lên bãi cát ngủ suốt ngày) Nếu như ở phần trên ông mượn hình ảnh dòng nước làm biểu tượng cho dòng thời gian thì đến đây ông mượn hình ảnh con thuyền mang tính tượng trưng cho dòng đời của con người. Thời gian vận động kéo theo dòng đời của mỗi con người cũng thay đổi theo dòng thời gian đó. Con thuyền biểu trưng cho dòng đời con người, thuyền vẫn cứ trôi và không thể trở về, con thuyền ấy bị dòng nước cuốn đi, trôi vào vĩnh hằng, hư vô:

Cố quốc qui tâm lạc nhạn biên, Thu phong nhất diệp hải môn thuyền.

(Thần phù hải khẩu) (Lòng mong về quê cũ theo cánh nhạn sa,

Chiếc thuyền ở cửa biển như chiếc lá trong gió thu.) Hình ảnh con thuyền biểu tượng của cuộc đời con người, trước sự vận động của thời gian thì cuộc đời con người cũng không thể đứng yên được. Có lúc nhà thơ cũng đã cho con thuyền ấy dừng đứng lại trước dòng chảy thời gian vô tình để ngẫm ngợi về cuộc đời nhưng rồi lại thấy thật đáng thương cho tuổi già đã cận kề mà nỗi

“tiên ưu” luôn canh cánh “lo trước thiên hạ” vẫn chưa thực hiện được giống như con thuyền kia theo ngày tháng cứ trôi đi trong sự vô định.

Thời gian trôi, trong vòng tuần hoàn quy luật tự nhiên ấy, cuộc đời của con người cũng xuôi dòng chảy với thời gian giống như thuyền và nước vậy:

Nhất biệt giang hồ sổ thập niên, Hải môn kim nhật hệ ngâm thuyền.

Ba tâm hạo diểu thương châu nguyệt Thụ ảnh sâm si phố tự yên.

Vãng sự nan tầm thời dị quá.

Quốc ân vị báo lão kham liên.

Bình sinh độc bão tiên ưu niệm, Toạ ủng hàn khâm dạ bất miên.

(Hải khẩu dạ bạc hữu cảm, Kỳ 2) (Từ khi xa chốn sông hồ khoảng vài chục năm,

Nơi cửa biển đêm nay buộc chiếc thuyền thơ.

Đáy nước mênh mông, trăng xoi xuống bãi, Bóng cây so le, khói lồng trên bến.

Việc xưa khó tìm lại được, thời gian dễ trôi qua, Ơn nước chưa đáp đền, tuổi già thật đáng thương.

Suốt đời riêng ôm cái chí “lo trước thiên hạ”, Ngồi khoác mảnh chăn lạnh thâu đêm không ngủ.) Cuộc đời của người nghệ sĩ Ức Trai là một chuỗi bi kịch. Bi kịch giữa hiện thực và lý tưởng mà ông theo đuổi, giữa khát vọng với cuộc đời. Để cuối cùng ông

nhận ra công danh, sự nghiệp rốt cuộc như “Danh thơm một áng mây nổi” (Thuật hứng, bài 63); hay chỉ là một giấc Nam Kha, giấc mộng Hoàng Lương, Hòe quốc,...

Cũng luận về cuộc đời, dòng chảy thời gian với bao biến thiên trong cuộc sống, trong bài thơ Nôm, Nguyễn Trãi đã khẳng định một quy luật mang tính phổ quát về sự hiện hữu con người và lòng người trước cuộc đời đen bạc:

Đủng đỉnh chiều hôm dắt tay, Trong thế giới phút chim bay.

Non cao non thấp mây thuộc, Cây cứng cây mềm gió hay.

Nước mấy trăm thu còn vậy, Nguyệt bao nhiêu kiếp nhẫn nay.

Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết, Bui một lòng người cực hiểm thay.

(Mạn thuật, bài 4) Chỉ vài ý thơ với giọng điệu nhẹ nhàng, thủ thỉ mà hết sức tinh tế, tác giả đúc kết trong tầm nhận thức khái quát và khẳng định: trong tự nhiên, vũ trụ phàm những gì mạnh hơn, chuyển động hơn thì tất đều hơn hẳn. Đó là quy luật, là sự bất biến của vũ trụ. Cũng giống như mây kia thuộc núi vì mây cao hơn núi hay gió kia mới biết phẩm chất mềm yếu của cây bởi gió mạnh hơn, vì gió được trải nghiệm, thử thách. Sự vật là thế, nhưng lòng người chẳng dễ luận suy. Một người từng trải, vốn hiểu biết sách vở, cuộc đời sâu rộng như Nguyễn Trãi mà trớ trêu thay, xót xa thú nhận về sự bất lực của mình giữa dòng đời và lòng người.

Nguyễn Trãi sử dụng hình ảnh biểu trưng rất khéo léo, linh hoạt, đã phần nào cho chúng ta thấy được bước đi của thời gian một cách chân thực và tinh tế hơn. Sử dụng hình ảnh biểu trưng phù hợp, Nguyễn Trãi không chỉ làm tăng giá trị của thơ bằng sự trang nhã, mỹ lệ sang trọng, hàm súc; mặt khác, qua ý nghĩa biểu trưng, người đọc phần nào hiểu được chí hướng, tâm sự, tình cảnh và vị thế của ông trước thời cuộc.

3.1.2. Hình ảnh mang nghĩa thực về “dòng chảy thời gian”

Hình ảnh thơ cụ thể, sinh động được Nguyễn Trãi lấy từ cuộc sống hiện thực thông qua sự chọn lọc, sắp xếp đưa vào thơ để cụ thể hoá ý tưởng của mình.

Hình ảnh bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống, nhà thơ dựa vào trực giác mô phỏng, tái hiện đưa vào thơ. Những hình ảnh này thường khô khan, ít gắn cảm xúc, nhà thơ thường dùng để tả, để “dựng khung”, “dựng cảnh” cho bài thơ. Tuy nhiên, với Nguyễn Trãi, khi đưa hình ảnh vào thơ ông có những sáng tạo trong cảm thụ bằng cách kéo thiên nhiên vào với mình và hoà mình vào với nó. Cho nên, những hình ảnh từ thực tế cuộc sống đi vào thơ Nguyễn Trãi không chỉ làm nhiệm vụ

“dựng cảnh”, mà chính tâm hồn thi nhân cũng đã “bén áo xâm khăn” với chúng, tạo nên những hình ảnh thẩm mỹ sống động giữa con người với không gian, thời gian cuộc sống.

Hiện thực đời sống là mảnh đất tốt nhất để Nguyễn Trãi có thể xây dựng những hình tượng mới mẻ. Tất cả cảnh vật hiện diện quanh ông đều là những

“nguyên liệu” để tạo nên hình ảnh thẩm mỹ trong thơ. Mỗi bước chân đi qua bất cứ nơi nào, hình ảnh đất nước tươi đẹp trong thế núi hình sông đều được thu vào “ống kính” của thi nhân.

Hình ảnh trong cuộc sống, qua sự “nhào nặn” của thi nhân đã trở thành những hình tượng nghệ thuật sinh động. Những bài thơ của Nguyễn Trãi nếu được vẽ lại, hẳn sẽ là những bức tranh độc đáo. Bởi lẽ, không thể phủ nhận trong thơ ông có hoạ. Nguyễn Trãi yêu cái đẹp phong phú, gần gũi chính là thiên nhiên. Thi nhân thường để tâm hồn mình đi theo đám mây bay, theo dòng nước chảy, và lòng thi nhân vui tươi rộn rã khi thấy mặt trời lên, khi nghe chim ca, và nhìn thấy hoa nở thắm...

Vậy nên, trong thơ Nguyễn Trãi, ngoài cái đẹp của tự thân đề tài, ngôn ngữ còn có cái đẹp của những hình ảnh mà tác giả tạo nên trong trí tưởng tượng của người đọc. Đó là những hình ảnh trực tiếp từ hiện thực cuộc sống gắn liền với những khoảng thời gian sinh hoạt đời thường. Nguyễn Trãi nói nhiều về hình ảnh buổi chiều muộn, đêm tối, ngày hè, tiết cuối xuân, bóng chiều tà, hạ nhật, thu muộn… để bộc bạch cảm xúc trước thời gian.

Trong thơ Nguyễn Trãi – nhất là ở tập thơ Nôm, bên những hình tượng có tính ước lệ, biểu trưng... còn có khá nhiều hình tượng nghệ thuật được tác giả khai thác từ đời sống hiện thực phong phú xung quanh mình. Nhờ những hình ảnh cụ thể, phong phú đó mà người đời sau có thể “lần theo từng bước chân” của thi nhân,

nghe và hiểu được tiếng lòng ông, quan niệm của ông về cuộc sống, về thế thái nhân tình và những chặng đường thi nhân đã đi qua. Nguyễn Trãi đã “mã hoá” được những ý tưởng của mình vào những hình tượng nghệ thuật khác nhau, tạo nên những cảm xúc thẩm mỹ đa tầng, đa diện.

Theo thống kê những bài thơ viết về kiểu thời gian đêm – ngàyxuất hiện nhiều trong thơ Nguyễn Trãi: “đêm tuyết” (Ngôn chí, bài 3), “đêm thanh” (Ngôn chí, bài 10), “ngày nhàn”, “đêm vắng” (Ngôn chí, bài 20),...

Có khi ông nhìn thời gian về đêm trong tiếng mưa như tiếng lòng của nhà thơ vào thời điểm chưa tìm ra một “lối thoát”:

Tịch mịch u trai lý,

Chung tiêu thính vũ thanh.

Tiêu hao kinh khách chẩm!

Điểm trích sổ tàn canh.

(Thính vũ) (Trong căn phòng tối vắng vẻ,

Suốt đêm nghe tiếng mưa rơi.

Tiếng mưa nghe buồn bã làm kinh động gối khách, Điểm từng giọt như đếm canh tàn.)

Khi chiều buông, đêm xuống cũng là lúc con người có nhiều tâm trạng nhất, cảm xúc chợt ùa về, có người nhớ kỷ niệm, hồi ức, có người nhớ nhung hay nặng một nỗi sầu. Nguyễn Trãi là một thi sĩ đa cảm nên đứng trước thời gian và không gian như vậy thì trái tim của ông càng thêm thổn thức, đôi khi ông như mất phương hướng, không biết đi về đâu. Chính thái độ “lảng thảng” ấy khiến cho mọi nỗi đau buồn lo lắng vì con người và cuộc sống dường như không lúc nào không cuốn cuồn trong lòng Ức Trai:Đêm ngày cuồn cuồn nước triều đông(Thuật hứng).

Hình ảnh các kiểu thời gian tuần hoàn đêm – ngày, xuân - thu, đông – hè…

thường trở đi trở lại trong thơ Nguyễn Trãi. “Xuân đến” (Mai thi, bài 1), “Thu đến”

(Tùng, bài 1), “Xuân qua” (Đào hoa thi, bài 5), “thuở ngày hè” (Hòe),... Trong vòng tuần hoàn xuân – hạ - thu – đông, Nguyễn Trãi - con người của thiên nhiên, yêu thiên nhiên, sống cùng thiên nhiên, cảm nhận thiên nhiên theo vòng tuần hoàn:

Một phần của tài liệu Cảm thức thời gian trong thơ nguyễn trãi (Trang 64 - 73)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(94 trang)
w