Chương 2 CẤU TRÚC HỘI THOẠI TRONG SỬ THI ĐĂM SĂN
2.1. Đặc điểm của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn
Khảo sát Sử thi Đăm Săn chúng tôi thu được tất cả 70 cuộc thoại. Dựa trên cơ sở sự tham gia của các nhân vật giao tiếp, chúng tôi phân loại hình thức các cuộc thoại theo 3 tiêu chí: song thoại, tam thoại, đa thoại. Cụ thể như sau:
Song thoại Tam thoại Đa thoại
Dựa trên kết quả thống kê ta thấy tác giả dân gian thường sử dụng hình thức song thoại và đa thoại, một số ít cuộc thoại còn lại được xây dựng ở dạng tam thoại.
Các cuộc thoại trong Sử thi được diễn biến một cách linh hoạt, đa dạng:
ban đầu là giao tiếp mang tính chất song thoại giữa giữa hai nhân vật, sau đó có sự xuất hiện của nhân vật khác làm cho cuộc thoại chuyển từ song thoại sang tam thoại hoặc đa thoại.
Ví dụ 8: Cuộc thoại giữa Hơ Nhị và Hơ Âng:
Hơ Nhị: Ơ đuk, ơ đuk, có thấy em đuk ở đây không?
Hơ Âng: Cậu ấy còn đi đâu nữa, đuk? Đang nằm trong buồng của cậu ấy kia kìa. Cô cậu lại có chuyện với nhau phải không? Cãi nhau hả?
Hơ Nhị: Nào có chuyện gì mà cãi nhau, đuk? Hơ Bhị chỉ gọi anh ấy về ăn cơm thôi.
ồi Hơ Nhị đi thẳng vào buồng Đăm Săn.
Hơ Nhị: Ơ nuê, ơ nuê, về nhà chúng ta nào.
Đăm Săn: Tôi về mà làm gì? Các cô đâu có cần tôi mà tôi về? Các cô đã không cần, sao tôi lại về nhỉ? [42;60]
Hình thức song thoại được sử dụng chủ yếu với 39 cuộc chiếm 55,7%, tiếp theo là 20 cuộc theo hình thức đa thoại chiếm 28,6% và ít nhất là hình thức tam thoại 11 cuộc chiếm 15,7%.
Số lượng nhân vật đã góp phần ảnh hưởng đến dung lượng cuộc thoại, đa phần những cuộc thoại dài đều là do có nhiều nhân vật tham gia, chẳng hạn: cuộc thoại 22 gồm 3 đoạn thoại với sự tham gia của các nhân vật: Hơ Nhị, Đăm Săn, Prong Mưng, cùng tôi tớ, dân làng. Hay cuộc thoại 50 gồm 4 đoạn thoại với sự tham gia của các nhân vật: Mtao Mxây, Đăm Săn, Y Suh, Y Sah, các tù trưởng và tôi tớ, dân làng.
2.1.2. Cấu trúc của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn
Trong Sử thi Đăm Săn, đa số là những cuộc thoại gồm từ một đến ba đoạn thoại (67 cuộc thoại), chỉ có 3 cuộc thoại có cấu trúc 4 đoạn thoại. Cụ thể:
Cấu trúc 1 đoạn 2 đoạn 3 đoạn 4 đoạn
Tổng
Cấu trúc thông thường của một đoạn thoại gồm 3 phần: đoạn mở thoại, đoạn thân thoại, đoạn kết thoại. Thế nhưng, qua khảo sát thực tế có thể nhận thấy có nhiều cuộc thoại không có đầy đủ ba thành phần. Đó là trường hợp:
-Cuộc thoại chỉ có thân thoại. Ví dụ 9:
Đăm Săn: Bớ bọn trẻ làng ta, xem ta đã đẹp chưa nào?
Tôi tớ: Đẹp rồi đấy, ông ạ. Tốt rồi đấy, ông ạ. Đẹp như thế là vừa, đẹp từng ấy là đủ, ông ạ. [42;51]
- Cuộc thoại chỉ gồm một đoạn thoại, trong đó:
+ Đoạn thoại chỉ gồm một cặp thoại, vừa đóng vai trò phần thân vừa
đóng vai trò phần kết; phần mở thoại được kể bằng lời trần thuật.
Ví dụ 10:
Hơ Nhị, Hơ Bhị bỏ váy cũ mặc váy mới. Váy này thấy chưa đẹp, lại lấy váy kia. Cả hai chị em đều mặc váy sọc điểm hoa kơ-ụ, mặc áo điểm hoa êmiê, những váy áo từ trên cao ông trời đã ban cho, từ trên cao ông trời đã thả xuống.
Hơ Nhị: Hỡi bọn trẻ làng ta xem ta đẹp chưa nào?
Tôi tớ: Đẹp rồi đấy bà ạ. Sang rồi đấy, bà ạ. [42;52]
+Đoạn thoại đóng cả ba vai trò: mở, thân và kết thoại. Ví dụ 11:
Hơ Bia Điêt Kluich: Ơ cái anh chàng chim ưng con, có chuyện gì mà anh đến đây anh liệng? Ơ cái chàng chim hia con, có chuyện gì mà anh đến đây kêu. Anh đem đến cho tôi quách hoa hòm vẽ đấy phải không?
Đăm Săn: Ơ em, xin em đừng giận. Thế là từ nay cơm ta ăn đã khác nồi khác mâm, rượu ta uống đã khác cần khác ché, nước ta gội đầu đã khác păm pli (bồ kết), gội chung với ta đã là một kẻ khác, cả miếng thịt trâu thị bò cũng đã khác con, mời nhau ăn không còn là ta với nhau nữa rồi! [42;55]
+Đoạn thoại không có phần mở và kết thoại.
Ví dụ 12:
Đăm Săn: Ơ các con, ơ các con, các con hãy đem cái đầu của hắn bêu ngoài cổng làng, đem cái hàm của nó móc ngoài bãi cỏ để cho kiến đen, kiến gió chúng bâu! [42;75]
Nguyên nhân hình thành các trường hợp trên là do: nội dung được diễn
đạt bằng lời kể, không thể hiện bằng lời thoại. Có thể thấy trong Sử thi Đăm Săn ở rất nhiều trường hợp tác giả dân gian đã kết hợp rất hài hòa giữa lối văn trần thuật với hội thoại. Lời kể có thể thay thế cho mở và kết thoại.
Ngoài ra còn có một lí do khác, đó là trường hợp thoại hẫng tức chỉ có một nhân vật nói, phát ngôn thành lượt lời của người nói mà không có lượt lời của người nghe. Thường được diễn ra khi người nghe ở vai dưới hoặc trong hoàn cảnh tiếp nhận bị động. Tuy nhiên phần lớn các cuộc thoại trong tác phẩm đều có đầy đủ ba phần, trong đó nhiều cuộc thoại phần thân thoại có nhiều đoạn thoại.
Qua thống kê, ta thấy: đa số là các cuộc thoại ngắn (1 - 2 đoạn thoại), có đến 37 cuộc thoại một đoạn thoại, 25 cuộc thoại hai đoạn thoại, số lượng thoại dài (3 đoạn thoại trở lên) rất ít - 8/70 cuộc thoại, gồm: 5 cuộc thoại ba đoạn thoại và 3 cuộc thoại bốn đoạn thoại. Từ đặc điểm này, có thể khẳng định tác giả dân gian thường sử dụng các cuộc thoại ngắn.
2.1.3. Vai giao tiếp của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn
Quan hệ vai trong các cuộc thoại của Sử thi Đăm Săn gồm cả vai giao tiếp: vai trên - vai dưới (43 cuộc thoại) và ngang vai (21 cuộc thoại). Cụ thể:
Vai giao tiếp Vai trên - vai dưới Ngang vai
Vừa vai trên vừa vai dưới, vừa ngang vai
Tổng
Ví dụ 13: Trong cuộc thoại 2, nhân vật Hơ ị trong quan hệ với Y Đhing là quan hệ ngang vai, nên Hơ ị xưng tôi, gọi là anh em:
Hơ Lị: Thưa anh em, vì đâu xui khiến mà chiêng leo giàn bếp bậc quyền
môn lại đến với kẻ tiện ti, bỗng dưng anh em hạ cố đến nhà tôi lần này vậy?
Y Đhing: Ấy, xin người chị em đừng vội dấp rừng chầm lối. Từ nay hai nhà chúng ta lại đi lại làm thân, chúng ta lại cùng nhau kẻ mua người bán.
Bên này làng ta, bên kia cũng làng ta. [42;46]
Nhưng trong mối quan hệ với Đăm Săn lại là quan hệ vai trên - vai dưới.
Ví dụ 14:
Hơ Lị: Ơ anh, ơ anh, anh ra nhà khách! Cả nhà đầy khách, phòng khách đầy người Chăm, những người cầm đầu đang ngồi một mình ở giữa nhà.
Đăm Săn: Không, không, anh không ra đâu, em ơi. Em cứ đi đốt gà, đem rượu ra mời họ. [42;47]
Trong Sử thi Đăm Săn còn có hiện tượng có thể một nhân vật đóng nhiều vai giao tiếp trong cùng một cuộc thoại, thường trong tam thoại hoặc đa thoại.
Ví dụ 15:
Đăm Săn: Ơ Hơ Lị, ơ chị Hơ Âng, sao cứ đứng đấy mà nhìn con nhà người ta đứng ở xó củi hả? Chứ không thấy người ta vố đã gác trên xà nhà, bành đã hạ xuống sàn hiên, voi đã đang quạt tai phần phật, chân đang giậm đất hay sao?
Hơ Âng: Đuk ơi, đuk vào đây! Mời đuk ngồi vào chiếu.
Hơ Bia Điêt Kluich: Đứng đây cũng được, đuk à. Tôi phải đâu là khách mà ngại! Người ta kia mới là khách. [42;56]
Xét mối quan hệ giữa Hơ Âng với Đăm Săn là vai trên - vai dưới, còn với Hơ Bia Điêt Kluich lại là ngang vai.
Thông thường cuộc thoại mà các nhân vật giao tiếp nằm ở mối quan hệ vai trên - vai dưới thì người có vị thế trên sẽ có vai trò giao tiếp mạnh hơn, ngược lại người kia có vị thế giao tiếp yếu hơn. Người có vị thế giao tiếp mạnh có phần lấn lướt người có vị thế giao tiếp yếu, và người có vị thế giao tiếp yếu cũng vì thế mà ngại đưa ra ý kiến, ngại giãi bày hết lí lẽ, làm cho các
cuộc thoại trở nên ngắn đi. Tuy nhiên, ở Sử thi này thì khác; có những trường hợp nhân vật giao tiếp ở vai giao tiếp dưới nhưng lại có vai trò giao tiếp mạnh, không bị chi phối bởi vai trên, thậm chí còn có phần lấn lướt vai trên trong giao tiếp.
Ví dụ 16: Cuộc thoại 42 giữa Mtao Mxây và tôi tớ của làng Đăm Săn:
Mtao Mxây: Ơ các con, ơ các con, đầu bến nước này là ai, ai là con chim chút mẹ, ai là đốt dây êdung, đốt dây êmiêng ở cái làng này.
Tôi tớ: Quyền cao nhất ở đây cũng gốc từ cây mđơk, chức lớn nhất ở đây cũng gốc từ cây êboa. Chủ là chúng tôi, mà tớ cũng là từ chúng tôi.
[42;79]
Trong trường hợp này, vai giao tiếp trên của tù trưởng Mtao Mxây đã bị tôi tớ làng Đăm Săn hạ thấp xuống ngang vai. Cho nên Mtao Mxây không đạt được mục đích giao tiếp (đích tiêu cực).
Điều này đã khẳng định sự ảnh hưởng của vai giao tiếp đến đề tài và đích giao tiếp của cuộc thoại. Ở những cuộc thoại có cả hai dạng quan hệ vai, đề tài thường được mở rộng, nhiều đoạn thoại được triển khai, dung lượng những cuộc thoại này vì thế mà lớn hơn. Như vậy, một lần nữa thấy được vai giao tiếp và vị thế giao tiếp đã chi phối đến dung lượng cuộc thoại.
Quan hệ vai trong các cuộc thoại của Sử thi Đăm Săn chủ yếu là quan hệ vai trên - vai dưới, tiếp theo là quan hệ ngang vai, quan hệ vừa vai trên vừa vai dưới vừa ngang vai có số lượng ít hơn. Qua đó, ta thấy quan hệ thứ bậc trong Sử thi Đăm Săn chiếm phần đa trong những cuộc giao tiếp.
2.1.4. Hoàn cảnh giao tiếp của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn
Hoàn cảnh và vai giao tiếp chi phối rất lớn đến việc lựa chọn ngôn từ, cấu trúc của hội thoại nói chung, hội thoại trong Sử thi Đăm Săn nói riêng.
Trong Sử thi Đăm Săn, có 42/70 các cuộc thoại nằm trong hoàn cảnh giao tiếp mang tính chất cộng đồng diễn ra tại không gian sinh hoạt chung.
27/70 cuộc thoại là hoàn cảnh giao tiếp mang tính chất riêng tư như cuộc tâm tình trò chuyện, hỏi han, khuyên nhủ. Chỉ có 1/70 cuộc thoại vừa mang tính riêng tư, vừa mang tính cộng đồng, lúc đầu là hoàn cảnh chỉ có hai anh em Hơ Nhị và Y Đhing diễn ra trong nhà của Hơ Nhị nhưng ở đoạn cuối của cuộc thoại lại chuyển hoàn toàn sang không gian cộng đồng. Sau đây là bảng thống kê hoàn cảnh giao tiếp trong Sử thi Đăm Săn:
Riêng tư Cộng đồng
Vừa riêng tư, vừa cộng đồng Tổng
Xét ở góc độ có nghi thức và không nghi thức thì phần lớn các cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn thuộc hoàn cảnh có nghi thức. Khan Đăm Săn là bức tranh rộng lớn về cuộc sống vật chất và tinh thần của người Ê-đê, nội dung cơ bản của khan là kể chuyện các nhân vật anh hùng trong mối quan hệ với con người và thần linh. Vì thế hoàn cảnh giao tiếp của Khan Đăm Săn mang tính nghi thức, biểu hiện văn hóa đặc trưng của cộng đồng người Ê-đê ở Tây Nguyên. Điều này góp phần tạo nên tính sinh động của tác phẩm.
Sở dĩ các cuộc thoại diễn ra chủ yếu ở hoàn cảnh cộng đồng là do Sử thi Đăm Săn “được xem là bức tranh toàn cảnh về không gian địa lí và không gian xã hội của tộc người Ê-đê truyền thống. Ở đấy, từ khung cảnh của ngôi nhà dài, bến nước, nương rẫy, rừng cây, sông suối, đến trang phục, ăn uống, tín ngưỡng, phong tục tập quán, nghi lễ, cưới xin, xử kiện, trò chơi dân gian, đàn hát đều được nói đến một cách khá chân thực và sinh động”. [19;118].
Ví dụ 17:
Đăm Săn: Ơ các con, ơ các con, lấy nước nồi bung nồi bẩy cho ta rửa tay, lấy nước chén hoa bát sứ cho ta rửa mặt nào!
Đăm Săn tháo khố cũ, quấn khố mới. o này chưa vừa lòng, chàng lấy áo kia. Chàng quấn một cái khố sọc rằn gấp bỏ múi, mặc một áo dày nút, đi đi lại lại từ nhà trong ra nhà ngoài, chân hất khoan thai, theo sau là bốn năm người tôi tớ.
Đăm Săn: Bớ bọn trẻ làng ta, xem ta đã đẹp chưa nào?
Tôi tớ: Đẹp rồi đấy, ông ạ. Tốt rồi đấy, ông ạ. Đẹp như thế là vừa, đẹp từng ấy là đủ, ông ạ. [42;51].
Chỉ trong hoàn cảnh cộng đồng thì nhân vật Đăm Săn mới bộc lộ hết được bản chất văn hóa của người Ê-đê, từ cách sinh hoạt cho đến phong tục tập quán.
2.1.5. Mục đích giao tiếp của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn
Qua khảo sát, ta thấy trong Sử thi Đăm Săn có 58 cuộc thoại có mục đích giao tiếp, chủ yếu là các cuộc thoại tích cực - 41/70 cuộc (cuộc thoại nhằm tạo lập và duy trì quan hệ xã hội), 17/70 cuộc thoại tiêu cực; còn lại là các cuộc thoại hẫng 12/70 cuộc thoại. Cụ thể:
Cuộc thoại tích cực Cuộc thoại tiêu cực Cuộc thoại hẫng
Nói đến mục đích của cuộc thoại nghĩa là đề cập đến cái kết của nội dung cuộc thoại. Có những cuộc thoại đạt được mục đích giao tiếp nhưng cũng có những cuộc thoại không đạt được; bên cạnh đó cũng có những cuộc thoại chưa đạt được mục đích giao tiếp nhưng cũng không làm mất đi mối quan hệ giữa các nhân vật, những cuộc thoại như vậy thường là cuộc thoại hẫng, nó có thể là nền tảng để xuất hiện những cuộc thoại tiếp theo.
Qua nghiên cứu, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:
Thứ nhất, cuộc thoại tích cực thường có dung lượng dài, có nhiều nhân vật giao tiếp, đề cập đến nhiều đề tài, nhiều chủ đề nhưng cuối cùng vẫn đưa đến kết quả như dự tính của người phát ngôn. Thậm chí có những cuộc thoại diễn ra rất căng thẳng, tưởng như sẽ không đạt được đích giao tiếp nhưng qua thương lượng hội thoại lại đạt được mục đích giao tiếp của chủ thể phát ngôn.
Ví dụ 18: Cuộc thoại 24 giữa Đăm Săn với Ông Trời:
Ông Trời: Kìa cháu, vợ cháu đi theo đã đến kia kìa.
Đăm Săn: Vợ nào con nào? Có chết cháu cũng không lấy Hơ Nhị, cháu cũng không lấy Hơ Bhị.
Ông Trời: Thật chứ, cháu?
Đăm Săn: Thật chứ, ông.
Ông Trời: Nào, cháu, cháu lấy chứ?
Đăm Săn: Cháu không lấy đâu, ông ơi.
Ông Trời: Sao cháu, lấy chứ?
Đăm Săn: Cháu lấy vậy. Nhưng ông ơi, có thật lấy Hơ Nhị, Hơ Bhị chân cháu không phải xuống đất mà nô lệ vẫn có, chân cháu không phải chạy mà voi vẫn có không ông?
Ông Trời: Thật chứ, cháu. [42;64]
Thứ hai, đa số cuộc thoại tiêu cực thường có dung lượng ngắn chứa từ một đến hai đoạn thoại, bao chứa trong cuộc thoại ấy thường là những lời chửi hoặc mắng nhiếc của các nhân vật. Tuy nhiên vẫn có ngoại lệ với cuộc thoại 50 (4 đoạn thoại) và cuộc thoại 65 (3 đoạn thoại).
Ví dụ 19: Cuộc thoại 44:
Mtao Mxây: Ơ các con, ơ các con, nhà chàng Đăm Săn đâu?
Tôi tớ: Nhà nào nhỏ là nhà giàu, nhà nào lớn là nhà nghèo. Nhà nào tôi trai tớ gái cho lợn ăn bằng chiêng, nhà nào sàn hiên sau phơi đầy chỉ đỏ,
sàn hiên trước phơi đầy chỉ vàng, nhà nào ăm ắp đệm voi, nhà ấy là nhà nghèo đó.
Mtao Mxây: Chà! Chà! Tôi tớ cái làng này chúng giỡn cả tù trưởng.
Thây mẹ chúng mày, L... mẹ chúng mày cái làng này. [42;80]
Thứ ba, các cuộc thoại hẫng thường là lời khuyên (cuộc thoại 9, 23), lời xoa dịu (cuộc thoại 15), lời hứa hẹn (cuộc thoại 61) diễn ra dưới hình thức ngắn gọn từ một đến hai đoạn thoại.
Ví dụ 20: Cuộc thoại 61
Đăm Săn: Ơ Hơ Nhị, ơ Hơ Bhị, đừng mong đợi tôi làm gì nhé.
Hơ Nhị: Ơ nuê, ơ nuê, nuê lại đi đâu nữa?
Đăm Săn: Tôi đi vào núi thẳm rừng xanh, tôi đi vào rừng âm u bịt bùng. Đêm tôi nghỉ, ngày tôi đi.
Hơ Nhị: Ơ nuê, nuê đi làm gì nữa? Nếu nuê cần chiêng thì nhà đã có chiêng. Nếu nuê cần la thì nhà đã có la rồi cơ mà.
Đăm Săn: Tôi đi nào phải để kiếm chiêng, tôi đi nào phải để kiếm la!
Tôi chỉ đi chơi phiếm, đi chơi không thôi mà.
Hơ Nhị: Ơ nuê, ơ nuê, nuê đã có chiêng đống voi đàn, bè bạn như nêm như xếp. Ai cũng nói nuê đã là một tù trưởng giàu mạnh...
Đăm Săn: Tôi đi đây là để bắt nữ thần Mặt Trời. Có bắt được nàng tôi mới thực sự trở thành một tù trưởng giàu có, chiêng lắm, la nhiều... [42;100]
Từ những phân tích trên ta thấy trong Sử thi Đăm Săn mục đích giao tiếp đã chi phối khá nhiều đến dung lượng cuộc thoại.
2.1.6. Nguyên tắc hội thoại của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn
Trong Sử thi Đăm Săn, tổng cộng có 70 cuộc thoại thì 59 cuộc thoại tuân thủ đúng các quy tắc hội thoại, đó là: quy tắc luân phiên lượt lời, quy tắc điều hành nội dung cuộc thoại và quy tắc cộng tác, cụ thể như sau: