Đặc điểm của đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn

Một phần của tài liệu Hội thoại trong sử thi đăm săn (Trang 43 - 55)

Chương 2 CẤU TRÚC HỘI THOẠI TRONG SỬ THI ĐĂM SĂN

2.2. Đặc điểm của đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn

2.2.1. Số lượng nhân vật của các đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn

Trong Sử thi Đăm Săn, có tất cả 114 đoạn thoại. Đó là các đoạn thoại được đặt tên bằng các số thứ tự từ 1 đến 114. Cụ thể: có 79/114 đoạn thoại có hai nhân vật tham gia (song thoại); 32/114 đoạn có nhiều nhân vật tham gia;

chỉ có 3/114 đoạn thoại có ba nhân vật tham gia thoại. Sở dĩ như vậy là có sự chi phối của tính chất các cuộc thoại. Số lượng nhân vật của các đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn được thể hiện qua bảng sau:

2 nhân vật 3 nhân vật Nhiều nhân vật

Ví dụ 22: Đoạn thoại 80 diễn ra giữa Đăm Săn, những người anh em vợ và các tù trưởng trong cuộc khiêu chiến với Mtao Mxây:

Đăm Săn: Bớ các con, xô đổ cái bờ rào này đi xem nào!

Y Suh, Y Sah: Chu cha, cha ơi! Chúng tôi chịu rồi đó! Dù anh có giết, có vứt như đồ bỏ đi, chúng tôi cũng đành chịu!

Đăm Săn: Hỡi những người anh mặc giáp sắt, hỡi những người em mặc giáp lưới! Hỡi những trang tù trưởng trẻ nhà giàu tài ba xinh đẹp! Hỡi các người thử vào xô xem nào!

Các tù trưởng: Anh ơi, chúng tôi cũng chịu. Anh có giết, có vứt như đồ

bỏ đi, chúng tôi cũng không làm gì hơn được! [42;87]

Các nhân vật tham gia hội thoại tuân thủ tuyệt đối các phương châm hội thoại, thực hiện đúng lượt lời và vị thế của mình; đồng thời tham gia cộng tác hội thoại một cách lịch sự, nhịp nhàng, qua đó người đọc thấy được mối liên hệ liên nhân giữa các nhân vật với nhau. Điều này chứng tỏ vai trò điều hành nội dung giao tiếp của nhân vật có vị thế trên (Đăm Săn).

Trong đoạn thoại ta thấy các nhân vật sử dụng cách diễn đạt lời thoại dài, trong đó có sử dụng các hình ảnh so sánh, ẩn dụ, nhân hóa để biểu đạt, nhưng tất cả chỉ hướng vào một nội dung chính mà nhân vật muốn truyền tải.

Đồng thời, cũng có những đoạn thoại, chỉ trong một chuỗi ngữ lưu nhưng nhân vật giao tiếp lại hướng lời nói của mình vào hai đối tượng khác nhau, nhằm hai mục đích nói khác nhau.

Ví dụ 23:

Hơ Âng: Thưa anh em dù anh em có gạn được óc rùa, có vắt được nước hoa tong bi, có ép được dầu từ một tảng đá bàn thì với con một nhà tù trưởng, khi người ta đã không bằng lòng lấy em gái các anh, thiết nghĩ anh em cũng không làm gì được người ta đâu. Tốt hơn cả, anh em nhận lấy cái chiêng này. Tốt hơn cả anh em hãy nhận lấy cái la này.

Y Đhing: Chúng tôi lấy chiêng lấy la làm gì nhỉ! ra anh bạn Đăm Săn cho chúng tôi là một bọn còn non choẹt, còn chưa vương hương nghệ được là bao, chắc gì đã biết kiếm cho em mình một người chồng rồi đó. g i Y Đhang, Y Lang) Ơ Y Đhang ơi, ơ Y Lang ơi. uá ngoài cổng làng có xử chém kẻ lạ nào đâu! Các người hãy đi lấy dây cột trâu cột bò nhà này lại giết ăn xem nào!

Thử xem người ta còn cho chúng ta là bọn còn non choẹt, hương nghệ chưa vương được là bao, chắc gì đã biết kiếm cho em mình một người chồng không nào. [42;50]

Về hình thức, đoạn thoại này có hai nhân vật tham gia (Hơ Âng và Y

Đhing, còn các nhân vật Y Đhang và Y ang chưa góp mặt); nhưng xét về nội dung phát ngôn thì nó có đến ba nhân vật tham gia thoại bởi sự xuất hiện của Y Đhang và Y ang (nhân vật ẩn lượt lời). Trong Sử thi Đăm Săn, kiểu thoại này khá phổ biến vì hoạt động của các nhân vật không mang tính cá nhân mà thường hướng vào tính cộng đồng, mang tinh thần chung của một tập thể.

Những phân tích trên đã cho thấy mối tương quan giữa số lượng nhân vật và số lời thoại được phát ngôn; đây là cơ sở để xác định dung lượng (độ dài, ngắn) của đoạn thoại.

2.2.2. Cấu trúc của đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn

Kết quả khảo sát cho thấy, đa phần đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn là đoạn thoại ngắn (có từ 1 - 2 cặp thoại); trong đó chủ yếu là đoạn thoại chỉ có một cặp thoại (78/114 đoạn thoại), tức là ranh giới giữa các đoạn thoại trùng với cặp thoại. Nguyên nhân là do sự tương đồng về đề tài, nội dung, hoàn cảnh và nhân vật giao tiếp. Cụ thể:

Số cặp thoại 1 cặp thoại 2 cặp thoại 3 cặp thoại 4 cặp thoại

Tổng

Ví dụ 24: Đoạn thoại 11 có một cặp thoại:

Đăm Săn: Bớ bọn trẻ làng ta, xem ta đã đẹp chưa nào?

Tôi tớ: Đẹp rồi đấy, ông ạ. Tốt rồi đấy, ông ạ. Đẹp như thế là vừa, đẹp từng ấy là đủ, ông ạ. [42;51]

Ví dụ 25: Đoạn thoại 17 có hai cặp thoại:

Hơ Nhị: Ơ các con, ơ các con, người đứng đầu các con nhà ở đâu?

Tôi tớ: Làm gì có người đứng đầu! Đầu giếng nước là từ chúng tôi, cây cau đầu làng là từ chúng tôi. [42;54]

Và: Hơ Nhị: Này các con, sao các con lại giỡn ta như giỡn một con mụ nhà nghèo, khinh ta như bày kiến đen kiến gió vậy.

Tôi tớ: Bà ơi, nào chúng tôi có biết! Bà lại mà hỏi anh trai làng đang rèn, hỏi bác già làng đang xử kiện kia xem! [42;54]

Cơ sở để phân tách đoạn thoại này thành hai cặp thoại là ở nội dung câu chuyện đang diễn ra và đích giao tiếp được thể hiện.

Trong tác phẩm này các nhân vật chủ yếu thể hiện mình thông qua hành động và những việc làm cụ thể (vấn đề tâm tình, tâm sự hầu hết không được nhắc đến), lời thoại chỉ tập trung vào việc miêu tả và bộc lộ tính cách nhân vật.

2.2.3. Vai giao tiếp của đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn

Trong đoạn thoại của Sử thi Đăm Săn, các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai trên - vai dưới (73 đoạn) và quan hệ ngang vai (41 đoạn). Cụ thể:

Vai trên - vai dưới Ngang vai

2.2.3.1. Quan hệ vai trên - vai dưới

Ví dụ 26: Đoạn thoại giữa Hơ Nhị và Y Đhing:

Y Đhing: Ơ em, vậy thì lòng em đã ưng ai, bụng em đã thương ai, ai là người em đã để ý?

Hơ Nhị: Nào tôi biết ai! Anh em cứ ưng đâu là chúng tôi sẽ thuận đấy, anh em cứ thương ai là chúng tôi sẽ thương theo người ấy. Chúng tôi nào dám trái lời anh em. [42;44]

Số lượng các đoạn thoại có vai giao tiếp vai trên - vai dưới chiếm 64%

trong tổng số các đoạn thoại; điều này cho thấy quan hệ vai trên - vai dưới chiếm ưu thế trong xã hội của cộng đồng người Ê-đê nói chung và trong những hoàn cảnh cụ thể của Sử thi Đăm Săn. Chủ yếu đó là quan hệ giữa anh -chị - em trong gia đình, dòng tộc; giữa các tù trưởng và tôi tớ, dân làng; giữa các vị thần và con người cụ thể.

Ví dụ 27: Đoạn thoại giữa Đăm Săn và Ông Trời:

Đăm Săn: Ới ông ơi, ới ông ơi, thả thang xuống cho cháu?

Ông Trời: Cháu lên có việc gì đó? Việc gấp lắm phải không?

Đăm Săn: Không có việc gì gấp đâu, ông ạ. Cháu chỉ lên xin ông giống lúa thôi. [42;77]

Qua vai giao tiếp ở trường hợp này, ta thấy được sự tôn kính của Đăm Săn đối với Ông Trời - vị thần linh tối thượng trong tâm thức của người Ê-đê.

Một tù trưởng mạnh mẽ, ngang tàng như Đăm Săn cũng phải nhờ đến Ông Trời mới có thể duy trì sức mạnh; đó là những lần được Ông Trời giúp sức trong trận chiến với các Mtao; nhờ Ông Trời mà Đăm Săn và Hơ Nhị, Hơ Bhị mới có thể thành vợ chồng; chính Ông Trời đã giúp cho Hơ Nhị sống lại...

Qua mỗi lời thoại của Đăm Săn, Hơ Nhị... ta thấy được sự cung kính, tôn nghiêm và hết sức tin tưởng vào Ông Trời. Trong tác phẩm nhân vật này xuất hiện không nhiều nhưng lại luôn can thiệp, quyết định những vấn đề quan trọng của con người; bởi đối với người Ê-đê, Ông chính là vị thần sáng tạo và cai quản muôn loài.

2.2.3.2. Quan hệ ngang vai

Giao tiếp ngang vai thường được thể hiện bởi mối quan hệ: vợ chồng hoặc giữa các tù trưởng với nhau. Cần lưu ý rằng, Sử thi Đăm Săn vừa khắc họa hình ảnh người anh hùng thông qua các cuộc chiến tranh giành lại vợ, vừa tập trung khai thác vấn đề văn hóa mẫu hệ và luật tục Chuê-nuê trong đời

sống hôn nhân và gia đình.

Ví dụ 28: Đoạn thoại 1 đã cho thấy nét văn hóa truyền thống về hôn nhân và gia đình của người Ê-đê:

Y Đhing: Vậy thì em ưng ai, thương ai mà người anh mặc giáp sắt, người em mặc giáp lưới em lại không ưng, không thương?

Hơ Nhị: Tôi thì tôi còn biết thương ai, ưng ai khác nữa! Chồng tôi, bà chúng ta đã tìm giùm, ông chúng ta đã kiếm giúp. Khi bà Hơ Bia Klu chúng ta qua đời, tôi là người đã được họ hàng đem chắp nối với ông Mtao Kla, chúng ta làm nuê dành s n cho ông. Ông bế tôi trên đùi, còn Đăm Săn ông cõng trên lưng. [42,44]

Tục Chuê-nuê đã được đề cập ngay từ phần mở đầu Sử thi Đăm Săn.

Ông Mtao Kla chính là ông của Đăm Săn; còn bà Hơ Bia Klu là bà của Hơ Nhị; họ là vợ chồng của nhau. Sau khi bà chết, ông Đăm Săn sẽ là chồng nuê của Hơ Nhị. Nhưng theo luật tục khi người nuê còn thơ nhỏ, còn người được nuê đã quá già nên Đăm Săn sẽ là người thay ông làm chồng nuê của Hơ Nhị.

Sử thi Đăm Săn được diễn biến bắt đầu từ lời ông bà dạy, tức là tuân theo tập tục Chuê-nuê.

Dựa trên cơ sở mẫu hệ mà quy định vai giao tiếp giữa vợ và chồng trong Sử thi Đăm Săn, đó là ngang vai.

Ví dụ 29: Đoạn thoại 36 giữa Hơ Nhị, Hơ Bhị và Đăm Săn:

Hơ Nhị: Ơ nuê ơi, hoa đây rồi!

Đăm Săn: Thật không?

Hơ Nhị: Thật chứ.

Đăm Săn: Còn Hơ Bhị, hoa đâu?

Hơ Bhị: Đây này. [42;65]

Nếu theo quan niệm của người Việt thì vai giao tiếp vợ chồng phải là vai trên - vai dưới và vai trên thuộc về người chồng thì với văn hóa mẫu hệ

vai giao tiếp trên phải là của người vợ; nhưng trong Sử thi Đăm Săn nói riêng và qua khảo cứu thực tế nói chung, chúng tôi nhận thấy: sự phân công về giới trong xã hội người Ê-đê rất rõ ràng: chế độ mẫu hệ chỉ được quy định và phải tuân thủ chặt chẽ trong đời sống hôn nhân và gia đình; còn ở vai trò là chồng - người nam giới hầu như không có quyền hành gì đáng kể, nhưng ở vai trò là bác, là cậu (dăm dei) về phía cha mẹ đẻ, anh ta lại là người rất có uy quyền.

Chị em gái của dăm dei muốn làm một việc gì hệ trọng đều phải hỏi ý kiến của dăm dei: từ việc trao đổi các tài sản lớn, mua voi, mua chiêng, ché quý đến chuyện hỏi chồng cho con gái, cháu gái, dăm dei bao giờ cũng là người có tiếng nói quyết định cuối cùng; “Các bà mẹ Ê-đê thường nói cậu nói thế nào thì tôi nghe như thế” [19;35]. Đây là nguyên nhân cân bằng vai giữa vợ và chồng trong cộng đồng người Ê-đê.

Quan hệ ngang vai còn được bộc lộ trong mối quan hệ giữa các tù trưởng.

Ví dụ 30: Đoạn thoại 52 diễn ra giữa Đăm Săn và Mtao Grự, trước khi hai tù trưởng bước vào cuộc chiến giành lại vợ:

Đăm Săn: Ơ diêng, ơ diêng, xuống đất! Chúng ta đọ sức nhau nào!

Mtao Grự: Ơ diêng, ơ diêng, mời diêng lên nhà, ta muốn làm lễ cầu phúc cho diêng một trâu. [42;73]

Quan hệ giao tiếp ngang vai được xác định thông qua cách xưng hô diêng - ta; diêng theo tiếng Ê-đê để chỉ người bạn kết nghĩa, nghĩa là Đăm Săn và Mtao Grự đã từng kết nghĩa với nhau.

Qua đó, ta thấy được vai giao tiếp có ảnh hưởng rất lớn đến nội dung và đích của đoạn thoại.

2.2.4. Hoàn cảnh giao tiếp của đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn

Nhân vật trong các đoạn thoại của Sử thi Đăm Săn trò chuyện với nhau ở nhiều hoàn cảnh khác nhau; có thể là ngôi nhà sàn dài, bến nước, rừng cây,

sông suối, đường làng... mỗi đoạn thoại lại có một hoàn cảnh riêng khác nhau.

Qua khảo sát, chúng tôi phân hoàn cảnh giao tiếp thành: không gian cộng đồng và không gian riêng tư. Cụ thể:

Cộng đồng Riêng tư

2.2.4.1. Không gian cộng đồng

Có 68 đoạn thoại thuộc về không gian giao tiếp cộng đồng (rộng), đặc biệt là ở những cuộc giao tiếp với tôi tớ, dân làng, những cuộc chiến giành lại vợ, những cuộc ra đi bắt voi, mở rộng nương rẫy.

Ví dụ 31: Đoạn thoại 56 diễn ra giữa Đăm Săn và dân làng Mtao Grự sau khi chiến thắng.

Đăm Săn: Hỡi nghìn chim sẻ, hỡi vạn chim ngói, hỡi tất cả tôi tớ bằng này, các người có đi với ta không?

Dân làng:

- Sao chúng tôi lại không đi? Tù trưởng chúng tôi đã chết mất rồi! Sao chúng tôi lại không đi? Lúa chúng tôi đã mục mất rồi! Chúng tôi còn ở với ai?

- Ông ơi, ông, chờ chúng tôi với! Để chúng tôi hốt cái bếp đã. Ai phải gọi bác thì gọi bác.

-Bác ơi, bác, chờ chúng tôi với! Để chúng tôi quét cái nhà đã. [42;75]

Trong Sử thi này, không gian cộng đồng được xác định bằng những yếu tố liên quan đến vấn đề chung của thị tộc. Xét theo chiều sâu văn hóa của đồng bào Ê-đê thì Sử thi Đăm Săn đã bộc lộ “những mối quan hệ mang tính cội nguồn chung” [19;79], vì thế toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của người Ê-đê đều được bộc lộ qua không gian giao tiếp cộng đồng.

Ví dụ 32: Đoạn thoại 58 diễn ra giữa Đăm Săn và bà con dân làng:

Đăm Săn: Hỡi bà con dân làng, hỡi các em các cháu! Hội hè đã vãn.

Bây giờ chúng ta phải bắt tay vào công việc làm ăn, phải đi thăm rẫy thăm ruộng kẻo hụt muối thiếu thuốc, đến quả kênh, củ năn cũng không có mà ăn.

Bớ các con, chúng ta đi phát rẫy dọn ruộng, chúng ta đi rừng săn thú nào!

Tôi tớ: Ồ, thế mà chúng ta đã làm xong cỏ rồi đó, Chúng ta cũng đã cào xong. Trời bắt đầu mưa. Bớ anh em ta đi trỉa nào! [42;76]

Đoạn thoại trên cho thấy không khí nô nức, phấn khởi cùng tinh thần đoàn kết của dân làng Đăm Săn trong lao động sản xuất. Ngoài vấn đề chiến tranh và người anh hùng, Sử thi Đăm Săn còn quan tâm đến đời sống chung của cộng đồng, tất cả đều được hiện lên trong không gian chung rộng lớn của buôn làng; bởi lẽ: buôn làng Ê-đê không chỉ là một cộng đồng cư trú mà còn là một cộng đồng về sở hữu lãnh thổ và lợi ích kinh tế; cùng sự quản lí của những người tù trưởng buôn làng đã trở thành một đơn vị tổ chức xã hội tự quản. Ngoài ra buôn làng Ê-đê còn được xem là một cộng đồng tín ngưỡng với quan niệm về thần quyền. Do đó, buôn làng Ê-đê chính là một cộng đồng văn hóa mà bản chất là “văn hóa rừng” hay văn hóa làng - rừng.

Những yếu tố trên là cơ sở để khẳng định không gian giao tiếp cộng đồng là không gian giao tiếp chủ yếu của đồng bào Ê-đê trong Sử thi Đăm Săn.

Ví dụ 33: Đoạn thoại 91 giữa Đăm Săn và Tôi tớ làng Hơ Nhị khi đi chặt cây thần smuk:

Đăm Săn: Bớ các con, bớ các con, hãy dũi như lợn, bạng như dê, hãy tới tấp vung tay rìu tay dao như chớp giật trong đêm tối!

Tôi tớ: Ối ông ơi, ối ông ơi, gốc cây trong suối, thân cây trong thung, cây như muốn gẫy, như chưa muốn gẫy! Gốc trong suối, thân trong khe, cây đang lung lay muốn gẫy rồi, ông ạ.

Đăm Săn: Cây lung lay muốn gẫy, nhưng gốc chưa đứt. Bớ tất cả làng

ta, hãy cứ dũi như lợn, báng như dê, hãy cứ tới tấp vung tay rìu tay dao như chớp giật trong đêm tối cho ta! [42;95]

Như vậy, xét trên tất cả các tiêu chí nhận diện (cộng đồng sở hữu lãnh thổ, cộng đồng dân cư, cộng đồng văn hóa), buôn làng Ê-đê đã thực sự hiện hữu trên nền tảng của không gian giao tiếp cộng đồng.

2.2.4.2. Không gian riêng tư

Có 46 đoạn thoại mang tính chất riêng tư, diễn ra trong không gian hẹp - không gian gia đình, thường được giao tiếp bởi hai nhân vật: Hơ Nhị với Y

Đhing, Đăm Săn với Hơ Âng, Đăm Săn với Hơ Nhị, Đăm Săn với Ông trời, Đăm Săn với Nữ thần mặt trời...

Ví dụ 34: Đoạn thoại 105 miêu tả cuộc đối đáp giữa Đăm Săn và Nữ thần được diễn ra tại nhà của Nữ thần:

Nữ thần: Hỡi người con của trần thế, ngươi muốn gì?

Đăm Săn: Đến đây, tôi muốn có người nấu cơm tôi ăn, dệt khố áo tôi mặc.

Nữ thần: Thế phải chăng ngươi còn là lưỡi dao chưa tra cán, còn là cái then chưa trả chốt, là gái còn ở không, là trai còn ở rỗi?

Đăm Săn: Tôi là lưỡi dao đã vướng cán, là lưỡi giáo đã có tay cầm.

Dưới trần gian, trai gái nào mà không có đôi có lứa. [42;106]

Môi trường sống của người Ê-đê được trải dài và mở rộng từ vùng đất rừng đến vùng đất làng, trong đó linh hồn của làng được biểu hiện trong những ngôi nhà sàn dài. Khi lễ hội kết thúc, cuộc họp làng đã xong, đó là lúc ngôi nhà sàn dài quay trở về với không gian riêng tư của gia đình, lứa đôi.

Ví dụ 35: Đoạn thoại 29 giữa Hơ Nhị và Đăm Săn:

Rồi Hơ Nhị đi thẳng vào buồng Đăm Săn.

Hơ Nhị: Ơ nuê, ơ nuê, về nhà chúng ta nào. Kẻ ăn người ở trong nhà đang trông chờ nuê đấy.

Đăm Săn: Tôi về mà làm gì? Các cô đâu có cần tôi mà tôi về? Các cô

Một phần của tài liệu Hội thoại trong sử thi đăm săn (Trang 43 - 55)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(188 trang)
w