Cấu trúc của cặp thoại trong Sử thi Đăm Săn

Một phần của tài liệu Hội thoại trong sử thi đăm săn (Trang 55 - 62)

Chương 2 CẤU TRÚC HỘI THOẠI TRONG SỬ THI ĐĂM SĂN

2.3. Cấu trúc của cặp thoại trong Sử thi Đăm Săn

Các loại cặp thoại phân theo số lượng tham thoại trong Sử thi Đăm Săn được thể hiện như sau:

2.3.1. Cặp thoại một tham thoại

Theo kết quả thống kê, số lượng cặp thoại trong Sử thi Đăm Săn là 268. Có thể thấy, trong tác phẩm số cặp thoại một tham thoại chiếm số lượng tương đối lớn, có tới 117/268 cặp thoại. Dạng cặp thoại này có một số kiểu cơ bản, cụ thể như sau:

- Kiểu 1: Kiểu cặp thoại này thường xuất hiện khi có một hành vi dẫn

nhập yêu cầu sự hồi đáp bằng hành động phi ngôn từ của người đối thoại, chủ yếu trong Sử thi Đăm Săn là cặp thoại một tham thoại theo dạng này.

Mô hình:

Ví dụ 40:

Dẫn nhập

Hồi đáp: hành động

Hơ Lị: Thưa anh em, mời anh em lại xơi cơm.

Y Đhing, Y Ling ngồi vào mâm cơm. [42;47]

- Kiểu 2: Trường hợp dẫn nhập 1 bằng lời trần thuật diễn tả hành động - hồi đáp bằng lời thoại và dẫn nhập 2 bằng hành động phi ngôn từ.

Mô hình:

Lời trần thuật

Dẫn nhập: lời thoại

Hồi đáp: hành động Ví dụ 41:

Hơ Nhị, Hơ Bhị thấy vậy bỏ chạy. Hai chị em sợ quýnh, muốn chạy ra xa, nhưng rồi cứ quấn lấy cây mà chạy. Cây sà xuống đầu hai người.

Đăm Săn: Ơ Hơ Nhị, ơ Hơ Bhị, chạy tránh đi nhanh!

Hơ Nhị, Hơ Bhị, chạy phía tây, cây ngả theo phía tây; chạy phía đông, cây ngả theo phía đông. Hai chị em chạy vào rừng Mnông, cây ngả theo vào vùng Mnông, chạy xuống vùng Bih, cây ngả theo xuống vùng Bih; chạy ra vùng Ađham, cây cũng ngả theo ra vùng Ađham. [42;95]

- Kiểu 3: Cặp thoại một tham thoại xuất hiện khi người nói biết đích xác là lời mình nói ra sẽ không có hồi đáp, nhưng vẫn nói nhằm những mục tiêu nào đó như bày tỏ thái độ, ý kiến.

Dẫn nhập 1

Dẫn nhập 2

Còn Mtao Mxây thì bước cao bước thấp chạy hết bãi tây sang bãi đông. Hắn vung dao chém đánh phập một cái, nhưng chỉ trúng một cái chão cột trâu.

Đăm Săn: Sao ngươi lại chém cái chão cột trâu? Còn khoeo chân ta, ngươi dành làm gì?

Đến lúc này, Mtao Mxây bảo Hơ Nhị quăng cho hắn một miếng trầu.

Nhưng Đăm Săn đã đớp được miếng trầu. Chàng nhai trầu, sức chàng tăng lên gấp bội.

Đăm Săn: Bớ diêng, bây giờ ngươi lại chạy, ta đuổi coi! [42;89]

Qua những ví dụ trên, ta thấy cặp thoại một tham thoại chủ yếu bị chi phối bởi hoàn cảnh giao tiếp và một phần do quan hệ vị thế. Phần lớn cặp thoại một tham thoại diễn ra trong không gian cộng đồng, thường là lời hiệu lệnh, do người ở vai giao tiếp cao lấn lướt người có vị thế thấp. Ngoài ra còn có dạng cặp thoại “hẫng”, thường tồn tại trong những lời chửi, lời trách móc của các nhân vật.

Ví dụ 43:

Mtao Mxây: Chà! Chà! Tôi tớ cái làng này chúng giỡn cả tù trưởng!

Thây mẹ chúng mày, L... mẹ chúng mày cái làng này. [42;80]

Ví dụ 44: Đăm Săn và các anh em vợ đến nhà Mtao Mxây để khiêu chiến, giành lại vợ nhưng những người anh em của Đăm Săn không thể xô đổ cổng và bờ rào nhà nhà Mtao Mxây nên Đăm Săn đã buông lời trách móc với thái độ tức giận, nói xong anh lập tức hành động mà không chờ sự hồi đáp:

Đăm Săn: ... Sai trẻ đi không xong, cho già đi không tới, ta ra tay ư?

Đăm Săn xô một xô, cả cái bờ rào làng Mtao Mxây đổ lăn kềnh.

[42;87]

Nguyên nhân chính làm cho kiểu cặp thoại này trở nên phổ biến trong Sử thi Đăm Săn là vì sự ảnh hưởng của yếu tố văn hóa, phản ánh đúng bản chất, tinh thần của người Ê-đê, đó là: tư duy độc lập trong mối quan hệ cộng đồng, tôn trọng chế độ mẫu hệ và thống nhất với quyết định của tù trưởng, thể hiện vai trò và sức mạnh của người tù trưởng. Nói cách khác do sự chi phối của yếu tố quyền uy nên những nhân vật ở vị thế cao (nhân vật nữ, người tù trưởng có sức mạnh hơn cả) thường có những phát ngôn mang tính tuyên bố, thông báo, sự giao hẹn, giao nhiệm vụ, thậm chí là các hành vi cấm, lời đe dọa... được biểu đạt bằng kiểu cặp thoại một tham thoại; kể cả lời dẫn chuyện cũng bao hàm cả lời thoại, nghĩa là nhân vật tự kể. Điều này vừa chứng minh vai trò của ngôn ngữ hội thoại trong đời sống vừa khẳng định tính văn hóa cộng đồng của người Ê-đê.

2.3.2. Cặp thoại hai tham thoại

Đây là dạng thông thường nhất trong hội thoại. Trong cặp thoại này, lượt lời trùng khớp hoàn toàn với một tham thoại (đồng thời một tham thoại có thể trùng khớp hoàn toàn với một hành vi ngôn ngữ). Trong Sử thi Đăm Săn có 100/268 cặp thoại như thế.

Ví dụ 45:

Tôi tớ: Đánh ching nào thưa bà?

Hơ Nhị: Hãy đánh những ching có tiếng âm vang. [42;45]

Cấu trúc tham thoại thứ nhất là tham thoại dẫn nhập, tham thoại thứ hai là tham thoại hồi đáp được tuân thủ chặt chẽ trong Sử thi Đăm Săn.

Mô hình:

Hồi đáp

Trong tác phẩm này, cặp thoại một tham thoại chiếm ưu thế hơn, tuy

nhiên cặp thoại hai tham thoại vẫn đóng vai trò chủ đạo bởi mục đích của câu chuyện là kể về bài ca cuộc sống tràn đầy khát vọng gắn với chế độ mẫu hệ và nhân vật người anh hùng Đăm Săn, vì vậy ngôn ngữ đối thoại là rất quan trọng, tác giả dân gian phải xây dựng những cuộc thoại tương tác giữa các nhân vật với nhau để qua đó bộc lộ hoàn cảnh, tính cách, tư duy... của con người.

2.3.3. Cặp thoại ba tham thoại

So với cặp thoại một tham thoại và cặp thoại hai tham thoại thì cặp thoại ba tham thoại phức tạp hơn rất nhiều về mặt cấu trúc. Trong Sử thi Đăm Săn có những dạng cụ thể sau:

- Dạng 1: gồm 3 kiểu:

Dẫn nhập 1

+ Kiểu 1:

Ví dụ 46:

Hồi đáp

Dẫn nhập 2 Mtao Grự: Ơ vợ diêng, tôi về đây, vợ diêng à.

Hơ Nhị: Diêng à, mời diêng ở lại nghỉ đêm với chúng tôi.

Mtao Grự: Để tôi về thôi, diêng có nhà đâu mà tôi nghỉ lại. [42;70]

Hay: Ví dụ 47:

Đăm Săn: Hỡi những người anh mặc giáp sắt, hỡi những người em mặc giáp lưới! Anh em là những tay khiên tài dao giỏ, anh em có đi với ta không?

Các tù trưởng: Đi đâu, thưa anh?

Đăm Săn: Đi đánh một tù trưởng nhà giàu, bắt tù binh, xéo nát đất đai của hắn. [42;85]

+ Kiểu 2:

Dẫn nhập 1

Hồi đáp - Dẫn nhập 2

Ví dụ 48:

Đăm Săn: Này cô, sao cô lại đùa với tôi như vậy? Làm tai tôi nhột quá đi!

Hơ Lị: Đã nhột gì bao nhiêu? Anh xem vợ anh đâu rồi? Voi đã tha người ta vào tít trong núi Cư Yang Lăk rồi, anh có biết không? [42;67]

Hay: Ví dụ 49:

Hơ Nhị: Ơ diêng, diêng đến chơi có việc gì?

Mtao Grự: Tôi đến thăm diêng của tôi, vợ yiêng à. Thế diêng của tôi đi đâu? [42;70]

+ Kiểu 3:

Dẫn nhập

Hồi đáp 1 - Hồi đáp 2 Ví dụ 50:

Hơ Bhị: Ơ anh, ơ anh, về ăn cơm!

Đăm Săn: Thế thì các cô cứ ăn đi! Bọn tôi chưa rỗi. [42;68]

Hay: Ví dụ 51:

Đăm Săn: Ơ diêng, ơ diêng, xuống đây!

Mtao Mxây: Ta không xuống đâu, diêng ơi! Tay ta đang còn bận ôm vú vợ, hai chúng ta ở trên nhà này cơ mà. [42;88] - Dạng 2:

Dẫn nhập 1 - Dẫn nhập 2

Hồi đáp Ví dụ 52:

Đăm Par Kvây: Ơ diêng, ơ diêng, rượu tôi đã cột, gà tôi đã đốt, cơm tôi đã dọn trong mâm đồng chậu thau, xin mời diêng đến ăn cho! Xin hỏi diêng đến có việc gì? Phải chăng đã có kẻ đến đánh diêng tại nhà, vây diêng

tại làng, bắt đi hết trai gái làng diêng rồi phải không?

Đăm Săn: Tôi đến rủ diêng, cùng diêng giắp mặt giáp lời bàn xem chúng ta đi bắt nữ Thần Mặt Trời có được hay không? [42;102]

Hay: Ví dụ 53:

Đăm Săn: Tôi nghĩ thương nàng, (...) Nhưng cho đến đây, đằng lưng nàng đã không ưa, đằng bụng nàng cũng không ưng, cả tiếng nói tiếng cười với tôi nàng cũng tiếc. Tôi quay về làng hoang nhà cũ của tôi vậy.

Nữ Thần: Ấy, người đừng ra về vội! Ta ra đi đây. Ngươi chết mất.

[42;107]

Trong toàn bộ Sử thi Đăm Săn, chỉ có 51/268 cặp thoại ba tham thoại.

Điều này cho thấy tác giả dân gian ít khi sử dụng loại cặp thoại này.

Những phân tích trên cho thấy: loại cặp thoại một tham thoại được tác giả dân gian sử dụng nhiều nhất, nhưng giữ vai trò chủ đạo vẫn là cặp thoại hai tham thoại, cặp thoại ba tham thoại vẫn xuất hiện nhưng chiếm tỉ lệ ít hơn.

Điều này phù hợp với cả đặc trưng thể loại Sử thi và văn hóa tinh thần của người Ê-đê ở Tây Nguyên.

Nếu xét về hình thức bên ngoài thì Sử thi Ê-đê có dạng thức tương đương kịch, cho nên diễn biến của toàn bộ câu chuyện đều được thông qua lời của người dẫn chuyện và bị chi phối bởi các dạng đối thoại của nhân vật.

Trong đó có sự đan xen giữa lời kể và lời thoại; vì vậy đã tạo ra được sự nối kết việc này với việc kia, nối các đoạn, các phần với nhau để hình thành mối liên hệ lôgic của tác phẩm. Nếu cặp thoại một tham thoại chủ yếu là lời tuyên bố, thông báo, giao hẹn, giao nhiệm vụ, các hành vi cấm, lời đe dọa... thì cặp thoại hai tham thoại và ba tham thoại thường là những lời tranh luận, lí lẽ.

Đồng thời, thông qua các hình thức thoại này ta có thể phân biệt rõ được diễn biến của các hành động được kéo theo nhờ hành vi ngôn ngữ. Có những lời thoại chỉ thể hiện một hành vi, nhưng có những lời thoại lại thể hiện một

chuỗi hành vi nối tiếp nhau. Điều này giúp cho việc tái hiện cuộc sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư Ê-đê xưa cụ thể và sinh động hơn.

Một phần của tài liệu Hội thoại trong sử thi đăm săn (Trang 55 - 62)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(188 trang)
w