Di sản văn hóa phi vật thé

Một phần của tài liệu Quản lý di sản văn hóa việt nam (Trang 32 - 35)

Nhã nhạc xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc dưới thời nhà Chu (thế kỷ VI - II TCN). Về sau, nhã nhạc được lan tỏa sang các nước láng giềng như: Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. Tuy được xem là tài sản chung nhưng nhã nhạc của mỗi nước đều có điểm riêng biệt. Ở Việt Nam, nhã nhạc bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ XV, nhưng phải đến thời kỳ nhà Nguyễn mới phát triển rực rỡ và đạt đến trình độ uyên bác. Các triều đại quân chủ Việt Nam hết sức coi trọng và

phát triển Nhã nhạc và loại hình âm nhạc này trở thành một biểu tượng cho

vương quyền về sự trường tồn, hưng thịnh của triều đại.

Đặc trưng của nhạc cung đình là tính bao trùm đối với tất cả các bộ môn âm nhạc khác, từ lễ nhạc (dùng vào các cuộc tế lễ lớn nhỏ của cung đình, trong

các chùa miếu), nhạc thính phòng, sân khấu, kể cả các vũ điệu, mà mỗi bộ môn

đều có những nghệ sĩ thượng thặng chuyên sáng tạo và biểu diễn. Các quy định về quy mô dàn nhạc, cách thức diễn xướng, nội dung bài bản,... của nhã nhạc đều rất chặt chế, phản ánh tính quy củ qua các định chế thâm mỹ rất cao, có khả

năng phản ánh tư tưởng, quan niệm triết lý của chế độ quân chủ đương thời. Các buôi trình diễn nhã nhạc thường huy động rất nhiều diễn viên ca múa và xiêm y phong phú với những trang trí lộng lẫy và tinh tế.

Nhạc khí dùng trong nhạc cung đình được "chế tạo tỉnh vi, chạm cân khéo léo, tỉnh xảo hơn nhạc khí dùng trong dân gian, lại có đầy đủ màu âm: tiếng kim, tiếng thổ, tiếng trong, tiếng đục, tiếng trầm, tiếng bổng, tiếng tơ, tiếng trúc, tiếng da, tiếng đá (khánh), tiếng đồng. Về độ cao có tiếng trầm của dây đài đàn tỳ bà, tiếng cao vút vi vu của tiếng sáo".

Nhã nhạc đã trở thành một phần thiết yếu của nghỉ lễ cung đình

Việt Nam với hàng trăm nghi lễ khác nhau hằng năm. Tuy nhiên, vai trò của nhã nhạc không chỉ giới hạn ở việc hòa nhạc phục vụ các nghỉ lễ mà còn cho thấy là một phương tiện giao tiếp và thể hiện lòng tôn kính đối với thần linh và các vua chúa thời phong kiến, cũng như truyền tải được những tư tưởng triết lý và tri thức về vũ trụ của người Việt Nam. Nhã nhạc được UNESCO công nhận là Kiệt

31

tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại vào ngày 07 thang 11

năm 2003.

3.2.1.2. Không gian văn hóa công chiêng Tây Nguyên

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng. Chủ nhân của di sản văn hóa quý giá và đặc sắc này là 17 dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Á và Nam đảo sống trên khu vực cao nguyên trung bộ của Việt Nam.

Xưa nay, người Tây Nguyên không tự chế tác mà mua công chiêng của - người Kinh từ các vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, dân tộc Lào hoặc Campuchia, rồi về nắn chỉnh lại để có được âm thanh mong muốn. Mỗi một làng bản đều có một người chuyên lên chiêng. Bao ngàn đời nay, cổng chiêng gắn với Tây Nguyên như một phần không thể thiếu trong suốt vòng đời mỗi con người và trong hầu như tất cả các sự kiện quan trọng của cộng đồng: từ lễ thối tai cho trẻ sơ sinh, lễ cưới xin, lễ tiễn đưa người chết, lễ đâm trâu trong ngày bỏ mả, v.v.

cho đến lễ cúng máng nước, mừng lúa mới, lễ đóng cửa kho, lễ mừng nhà rông mới, V.V.

Không gian văn hóa công chiêng Tây Nguyên đã trở thành một Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại vào ngày 25/11/2005, bên cạnh

niềm tự hào là một trách nhiệm hết sức nặng nề và to lớn. Cồng chiêng vốn là tài

sản vô giá, được các cộng đồng dân tộc Tây Nguyên sáng tạo và không ngừng phát huy, trao truyền lại bao đời nay. Chính vì vậy, đối mặt với những thử thách đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang chỉ đạo các cơ quan chức năng cùng với cộng đồng có những hành động cụ thể nhằm khôi phục các giá trị truyền thống, trả lại cho công chiêng linh hồn và cuộc sống đích thực của nó.

3.2.1.3. Không gian văn hóa quan họ Bắc Ninh

Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về và khi mùa thu tới, người dân 49 làng Quan

họ gốc thuộc xứ Kinh Bắc, dù ở bất cứ nơi đâu cũng trở về quê hương dé tray

hội đình, hội chùa, những lễ hội hết sức độc đáo bởi đã gắn liền với trình diễn

quan họ tự bao đời nay.

Mặc dầu còn có những ý kiến khác nhau về thời điểm ra đời của quan họ,

có ý kiến cho là quan họ có từ thế kỷ XI, số khác cho 1a tir thé ky XVII, song,

các công trình khảo sát, nghiên cứu từ trước tới nay đều đã khẳng định giá trị to lớn của di sản Văn hóa quan họ, đặc biệt là dân ca quan họ, loại hình nghệ thuật đước coi là cốt lõi của văn hóa xứ Kinh Bắc ngàn năm văn hiến.

Dân ca quan họ là một hình thức hát giao duyên. Những liền anh trong trang phục truyền thống khăn xếp, áo the và những liền chị duyên dáng trong bộ áo mớ ba, mớ bẩy, đầu đội nón thúng quai thao, cùng nhau hát đối những câu ca mộc mạc, đăm thắm, cách hát theo lối truyền thống không cần nhạc đệm mà vẫn đầy chất nhạc, thể hiện nét văn hóa tỉnh tế của người quan họ.

Một phần của tài liệu Quản lý di sản văn hóa việt nam (Trang 32 - 35)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(72 trang)