Tác phẩm văn học nghệ thuật

Một phần của tài liệu Quản lý di sản văn hóa việt nam (Trang 40 - 46)

Tháng 9 Tháng 9 năm 2005, Việt Nam đã phê chuẩn tham gia Công ước năm 2003

3.2.2.2. Tác phẩm văn học nghệ thuật

Văn học Việt Nam là sự tích hợp từ hai dòng văn học dân gian và văn hoc | viết của những người dùng tiếng Việt. Trong suốt thời phong kiến, phần lớn các tác phẩm thành văn của văn học Việt Nam được viết bằng chữ Hán do nhiều nguyên nhân: ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc, thiếu chữ viết bản địa, chữ Nôm ra đời lại không được triều đình khuyến khích... Về sau, văn học Việt Nam được thống nhất viết bằng chữ quốc ngữ.

Văn học dân gian là nền tảng của văn học viết, là chặng đầu của nền văn học dân tộc. Khi chưa có chữ viết, nền văn học Việt Nam chỉ có văn học dân gian; khi có chữ viết nền văn học Việt Nam mới bao gồm hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết.

Văn học viết chịu ảnh hưởng của văn học dân gian về nhiều phương diện,

từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật. Văn học viết cũng có tác động

trở lại đối với văn học dân gian trên một số phương diện. Mối quan hệ giữa văn học dân gian với văn học viết cũng như vai trò, ảnh hưởng của văn học dân gian

đối với văn học thế hiện trọn vẹn hơn cả ở lĩnh vực sáng tác và ở bộ phận thơ

văn quốc âm.

3.2.2.3. Múa rỗi nước - nghệ thuật diễn xướng dân gian của người Việt Trong kho tàng nghệ thuật dân gian Việt Nam, múa rối nước là một trong những loại hình độc đáo nhất. Với sân khấu là mặt nước, diễn viên là các con rối, cộng với hiệu quả của ánh sáng và pháo hoa đã tạo ra những màn biểu diễn

hấp dẫn và huyền ảo. Nghệ thuật múa rối nước là loại hình nghệ thuật dân gian

đặc sắc của vùng đồng bằng sông Hồng tại Việt Nam gắn với nền văn minh lúa nước. Mỗi phường múa rối nước đều có những đặc điểm, thế mạnh riêng, nhưng nhìn chung, các tích trò đều gắn với truyền thuyết lâu đời từ thời dựng nước, phản ánh sinh hoạt và lao động của người nông dân trên đồng ruộng với bao lo toan vất vả trước thiên tai, địch hoạ nhưng vẫn lạc quan, yêu đời. Trên thế giới

có nhiều loại hình múa rối như rối bóng, rối cạn nhưng rối nước chỉ có duy nhất ở Việt Nam. Đây là môn nghệ thuật xuất hiện cách đây khoảng 10 thế kỷ rồi và

do người nông dân sáng tạo ra. Cho nên nếu xem một buổi trình diễn múa rối nước thì đều diễn tả lại công việc đời thường của người nông dân như chăn trâu, cày bừa, đánh bắt cá hay một số tích trò như múa tiên, hay múa rồng. Sân khấu múa rối nước là buồng trò có mái che, người ta gọi là thủy đình, các nghệ nhân ngâm mình dưới nước để điều khiển con rối.

Nghệ thuật múa rối ở Việt Nam đã có từ lâu đời trong lịch sử, gắn liền với

nên văn minh lúa nước ở đồng bằng Bắc Bộ. Năm 1121 Múa rối nước đã được đưa vào biểu diễn để mừng thọ vua, mà minh chứng đó là những dòng chữ được

khắc trén tam bia đá cỗ có từ triều đại nhà Lý mà hiện nay đang được đặt tại

chùa Long Đọi, xã Đội Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.Từ những con rỗi riêng lẻ của một số các cá thể phát triển thành những phường rối với nhiều

những tích trò hay, lạ, đẹp mắt rồi được đem ra biểu diễn, thi tài phục vụ nhân

dân. Nhà nghiên cứu nghệ thuật múa rối Nguyễn Huy Hồng, cho biết: “Múa rối

39

nước đều là sản phẩm của vùng đồng bằng bắc bộ. Đồng bằng bắc bộ là nơi đầu

tiên của dân tộc Việt Nam. Lúc đầu thì không gọi là rối mà chỉ coi như là con trò. Đấy là người dân bắt chước để cho vui. Cho nên rối có đến 10 cái tế, ngày xưa có noi goi rối là Ôi, xong đến lỗi, vì thé dan Việt Nam nói văn hóa Việt Nam là của người trồng lúa nước. Những người nông dân sống ở vùng lúc nước, phải đào đất đắp nền, làm nhà, thành ao, cho nên các làng xưa xung quanh toàn ao”.

Múa rối nước thường diễn vào dịp lễ, hội làng, ngày vui, ngày Tết, dùng

con rối diễn trò, diễn kịch trên mặt nước. Nghệ thuật trò rối nước có những đặc điểm khác với múa rối thông thường: dùng mặt nước làm sân khấu, gọi là nhà rối hay thủy đình, phía sau có phông che, xung quanh trang trí cờ, quạt... Trên

sân khấu mặt nước, những con rối làm bằng gỗ biểu diễn nhờ sự điều khiển của

những người phía sau phông thông qua hệ thống sào, dây. Con rối được làm bằng gỗ sung, loại gỗ nhẹ nỗi trên mặt nước. Hình thù của con rồi thường tươi

tắn, ngộ nghĩnh. Buồng trò rối nước là nhà rối hay thủy đình thường được dựng

lên giữa ao, hồ với kiến trúc cân đối tượng trưng cho mái đình của vùng nông thôn Việt Nam. Người nghệ nhân rỗi nước đứng trong buông trò để điều khiển

con rối. Buổi diễn rối nước diễn ra nhộn nhịp với lời ca, tiếng trỗng, mò, tù

và....Âm nhạc sử đụng trong biểu diễn rối nước là các làn điệu chèo hoặc dân ca đồng bằng Bắc Bộ. Múa rối nước đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa không thể thiếu của người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ và gắn bó với họ từ thế hệ này sang

thế hệ khác.

3.2.2.4. Nghề thủ công truyền thống

Làng nghề thủ công truyền thống với các bí quyết nghề nghiệp riêng là sản phẩm độc đáo của nền văn hoá Việt Nam - Một dân tộc đã có bề dầy lịch sử hàng

ngàn năm với nền văn hoá lấy cộng đồng làng làm đơn vị tổ chức xã hội cơ bản.

Các làng nghề truyền thống đã tạo ra rất nhiều sản phẩm không chỉ đơn thuần là trao đổi thương mại mà còn có mặt giá trị về văn hoá và lịch sử. Đội ngũ nghệ nhân, hệ thống bí quyết và quy trình công nghệ tạo ra các sản phẩm được lưu truyền cùng với toàn bộ cảnh quan.

Nền kinh tế nông nghiệp lúa nước, do đặc thù hoạt động theo mùa vụ nên đã tạo ra khoảng thời gian nông nhàn cho những người nông dân. Do nhu cầu sinh hoạt hàng ngày cần có các vật dụng cho nên những người nông dân đã sử dụng thời gian nông nhàn của mình để làm ra các sản phẩm. Lúc đầu nó chỉ

nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của chính bản thân họ. Sau đó, nó được đem đi

trao đổi, buôn bán. Dần dần, hoạt động trao đổi tăng và có nhiều trường hợp đưa lại nguồn lợi nhiều hơn so với nghề làm nông nghiệp. Việc sản xuất những sản phẩm dần được phát triển và chuyên môn hóa. Xuất hiện những làng có thu nhập từ nghề thủ công chiếm tỷ trọng cao hơn nghề nông nghiệp. Thu nhập của những người nông dân đồng thời là thợ thủ công của những làng này trội hơn của những người nông dân ở những làng thuần nông. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà người thợ thủ công thoát ly khỏi nghề làm nông nghiệp. Những sản phẩm

nông nghiệp luôn là sự đảm bảo, ổn định cần thiết cho họ. Lịch sử đã chứng

minh, có nhiều làng nghề phát triển, hầu hết những người thợ thủ công đã có những nguồn thu chính, chủ yếu từ việc sản xuất và trao đổi các sản phẩm. Họ không còn trông chờ vào các sản phẩm từ nghề nông nghiệp bởi thu nhập từ nghề thủ công gấp nhiều lần so với nghề nông nghiệp. Nhưng họ không rời xa đồng ruộng. Họ dùng nguồn lợi thu được từ hoạt động phi nông nghiệp mua

những thửa ruộng rồi thuê người làm. Làng nghề gốm Bát Tràng (Gia Lâm, Hà

Nội) là một trường hợp trong số đó. Những người dân làng gốm Bát Tràng mua những thửa ruộng của các làng lân cận và thuê chính người dân của các đó làm ruộng cho mình. Điều này cũng minh chứng cho việc nghề thủ công truyền

thống chưa khi nào tách hẳn khỏi nông nghiệp. |

Sự tăng trưởng kinh tế làng nghề đã tạo điều kiện cho cộng đồng cư dân có điều kiện xây dựng những công trình tín ngưỡng, tôn giáo quy mô lớn, có giá trị nghệ thuật cao. Trong làng nghề, cùng với việc hình thành đội ngũ thợ thủ.

công sản xuất tại chỗ cũng xuất hiện những nhóm người đi ra ngoài buôn bán và hành nghề ở xa. Họ hình thành nên những hội, phường buôn. Cho dù buôn đâu, bán đâu, những người này vẫn có những mối liên hệ chặt chẽ với những người

41

làng. Làng nghề là một cộng đồng có sự liên kết bền chặt bởi những mối liên hệ ching chịt về: lãnh thổ, huyết thống, kinh tế, văn hóa và tâm linh. Họ xây những

nơi thờ vọng tổ nghề ngay tại nơi sinh sống, buôn bán hàng ngày. Bên cạnh đó, họ cũng đóng góp nhiều cho việc xây dựng các công trình công cộng, hỗ trợ tổ chức các hoạt động cộng đồng tại làng. Những lễ hội được tổ chức rằm rộ hơn, đài ngày hơn, nhiều hoạt động hơn. Các sinh hoạt mang tính cộng đồng đa dạng

và phong phú này không chỉ thắt chặt mối quan hệ giữa dân làng với những

người đi buôn, bán ở xa mà còn giúp cho người dân trong làng liên kết chặt chẽ hơn. Ngoài đặc trưng chung của làng là nơi cộng cảm, cộng cư, trong làng nghề thủ công truyền thống còn là nơi cộng nghề. Những người thợ thủ công liên kết với nhau qua các phường, hội. Họ liên kết lại, ngoài việc cùng chia sẻ các công việc liên quan đến nghề thì đó cũng là một sự hợp lực quan trọng, cần thiết và hữu ích để tạo nên sức mạnh chung của làng nghề. Các tổ chức này cũng chính là nơi để giải quyết những mối bất hòa, xung đột trong quá trình cùng làm nghề,

buôn bán. Việc hình thành các tổ chức như phường hội cũng góp phần vào việc

củng cố, ôn định các mối quan hệ làng xã góp phần vào việc tạo ra sức mạnh tập thể. Quan hệ làng xã được gắn kết tạo lập niềm tin giữa các thành viên trong cùng một cộng đồng. Đó là tiền đề quan trọng để các thành viên dễ ràng giải

quyết những vấn đề tập thể có liên quan tới lợi ích của cả cộng đồng, từng hộ

kinh tế gia đình và các thành viên. |

Là một loại hình di sản văn hóa có tính liên ngành cao và có quan hệ mật thiết với đời sống sinh hoạt hàng ngày, cho nên hoạt động bảo tồn và phát huy

giá trị văn hóa trong làng nghề thủ công truyền thông chỉ có thê hiệu quả khi giải quyết vấn đề hài hòa giữa bảo tồn với phát triển. Sản phẩm làm ra vừa phải

chứa đựng những yếu tố văn hóa truyền thống, tiếp thu những tĩnh hoa của cha ông vừa phải đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của xã hội đương đại. Một sản phẩm thủ công không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không biết ý nghĩa, không biết bối

cảnh làm ra nó thì giá trị của nó sẽ giảm đi hơn rất nhiều so với những sản phẩm hội đủ các yếu tố này.

Đánh giá đúng vị trí, vai trò của nghề thủ công trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước rồi đưa ra những chủ trương, chính sách phù hợp, có tính liên ngành không chỉ giúp cho việc hỗ trợ cho nghề thủ công được phát triển một cách bền vững mà còn góp phần vào việc thúc đây sự phát

triển ổn về kinh tế, xã hội. Nghề thủ công truyền thống không chỉ là tài sản vô

giá do cha ông để lại mà còn là động lực cho phát triển kinh tế, xã hội.

Di sản văn hóa cần phải gắn bó với con người và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt

văn hóa của con người. Đó là mục tiêu mà chúng ta cần vươn tới. Di sản văn hóa

vật thể và phi vật thể của làng nghề thủ công truyền thống được kết nối lại để và

được bảo tồn, phát huy ngay tại môi trường sinh thái nhân văn - nơi chúng được sinh ra. Đó là một bảo tàng di sản văn hóa - với tư cách là một điểm đến du lịch.

Hành trình văn hóa là sự liên kết các bảo tàng văn hóa làng thành tuyến du lịch

văn hóa qua các làng nghề. Như vậy, không chỉ các bảo tàng văn hóa làng mà những di sản văn hóa trong mỗi làng nghề đó được liên kết lại, được bảo tồn và phát huy. Đây là một mô hình cần xây dựng để bảo tồn và phát triển làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam.

43

Một phần của tài liệu Quản lý di sản văn hóa việt nam (Trang 40 - 46)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(72 trang)