BÀI 4: QUAN LY DISAN VAN HOA O VIET NAM

Một phần của tài liệu Quản lý di sản văn hóa việt nam (Trang 46 - 49)

4.1. Quan điểm của thế giới và Việt Nam về quản lý di sản văn hóa 4.1.1. Công ước về việc bảo vệ di sản văn hoá và tự nhiên của thé giới

Tinh đến năm nay 2012, Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp quốc viết tắt là Unesco đã trao bằng công nhận cho tất cả 962 di sản đại diện cho 157 quốc gia trên thế giới.

Trong 962 di sản có 745 di sản văn hóa, 188 di sản thiên nhiên và 29 di

sản hỗn hợp (gồm cả 2 loại văn hóa và thiên nhiên)

Hiểu một cỏch khỏi quỏt Di sản thế giới lọ những di chi hay di tớch của

một quốc gia như các kiến trúc, thành phố, rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, | quan thé kién tric, nghé thuat...do cac nước có tham gia vào Công ước di sản

thế giới đề cử cho Chương trình quốc tế Di sản thế giới được xét duyệt, công nhận và quản lý bởi UNESCO. Những đề cử di sản của các quốc gia được gửi - đến chương trình quốc tế Di sản thế giới sẽ được tổ chức ƯNESCO lập danh

mục, đặt tên và bảo tồn. Những đề cử được đưa vào đanh sách di sản thế giới có

thể được nhận tiền từ Quỹ di sản thế giới theo một số điều kiện nhất định.

Chương trình này được lập theo Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới gọi tắt là Công ước Di sản. Công ước Di sản được Đại hội đồng Unesco thông qua ngày 16 tháng 11 năm 1972.

Theo công ước di sản thế giới thì

Di sản văn hóa gồm: Các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điểu khắc và hội

họa, các yếu tô hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học chất, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình sự kết hợp giữa công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học. Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cỗ có giá trị nỗi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thâm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học.

Di sản thiên nhiên gôm:

- Các đặc điểm tự nhiên bao gồm các hoạt động kiến tạo vật lý hoặc sinh

học hoặc các nhóm các hoạt động kiến tạo có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm thâm mỹ hoặc khoa học.

- Các hoạt động kiến tạo địa chất hoặc địa lý tự nhiên và các khu vực có

ranh giới được xác định chính xác tạo thành một môi trường sống của các loài động thực vật đang bị đe dọa có giá trị nỗi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn. |

Di san hén hop

Đến tận năm 1992, Ủy ban di sản thế giới mới đưa ra khái niệm di sản hỗn hợp hay còn gọi là cảnh quan văn hóa để miêu tả các mối quan hệ tương hỗ

nỗi bật giữa văn hóa và thiên nhiên của một số khu di sản.

Cho đến nay nhiều di sản trong tổng số 962 di sản đã bị đưa vào danh

sách di sản có nguy cơ bị đe dọa, nhiều di sản đã không còn nguyên vẹn như khi mới được công nhận. Có những di sản được quản lý và phát huy tốt các giá trị của mình song bên cạnh đó vẫn còn nhiều di sản dường như bị lãng quên...

4.1.2. Trách nhiệm của quốc gia và quốc tế dỗi với di sản văn hoá và tự nhiên Mỗi một quốc gia tham gia Công ước này công nhận rằng trách nhiệm bảo đảm của việc xác định, bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo và truyền lại cho các thế hệ tương lai di sản văn hoá và tự nhiên nêu trong Điều 1 và 2 nằm trên lãnh thổ của mình, là trách nhiệm trước tiên của mình. Quốc gia này phải nỗ lực hành động tối đa cho mục đích trên bằng những nguôn lực mà mình sẵn có và nêu có, thì bang ca su vién tro va hop tac quốc tế mà nó có thể có được hưởng nhất là về ` A

mặt tài chính, nghệ thuật, khoa học và kỹ thuật.

Để bảo đảm việc bảo vệ và bảo ton càng hiệu quả càng tốt và tôn tạo cảng tích cực càng tốt đi sản văn hoá và tự nhiên nằm trên lãnh thổ của mỗi nước và theo những điều kiện thích hợp của mỗi nước, các nước tham gia vào Công ước này sẽ cô găng hết sức mình đê thực hiện các công tác sau đây:

45

- Đề ra một chính sách chung để trao cho đi sản văn hoá và tự nhiên một chức năng nhất định trong đời sống tập thể và đưa việc bảo vệ di sản đó vào các chương trình của việc kế hoạch hoá chung:

- Thành lập trên lãnh thổ của mình (trong trường hợp chưa có) một hoặc một vài cơ quan bảo vệ, bảo tỒn và tôn tạo di sản văn hoá và tự nhiên, có số

| nhân viên thích hợp và có đủ phương tiện thực hiện các nhiệm vụ được giao;

- Phát triển các công trình nghiên cứu và tìm tòi khoa học - kỹ thuật và cải

tiến các phương pháp can thiệp cho phép một quốc gia ứng phó với những tai hoạ dang de doa di san van hoá hay tự nhiên của nó;

- Áp dụng các biện pháp luật pháp, khoa học - kỹ thuật, hành chính và tài chính thích hợp để xác định, bảo vệ, bảo tổn, tôn tạo và tái sử dụng di sản đó;

- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập hoặc phát triển các trung tâm quốc gia hoặc vùng về đào tạo cán bộ trong lĩnh vực bảo vệ, bảo tồn và tôn tạo đi sản văn hoá và tự nhiên, khuyến khích việc nghiên cứu khoa học về lĩnh vực này.

Trong Công ước này, cần phải hiểu sự bảo vệ quốc tế đối với đi sản văn hoá và tự nhiên của thế giới là việc thành lập một hệ thống hợp tác và viện trợ quốc tế nhằm hỗ trợ các nước tham gia Công ước trong các nỗ lực để bảo tồn và xác định di sản đó.

Bên cạnh Tổ chức Liên Hợp Quốc về giáo dục, khoa học và văn hoá được thành lập một ủy ban liên chính phủ về việc bảo vệ di sản văn hoá và tự nhiên có giá trị quốc tế đặc biệt, được gọi là "úy ban di san thé gidi". Uy ban nay bao gồm 15 nước tham gia Công ước, được các nước tham gia Công ước họp thành

Đại hội đồng trong các kỳ họp thường kỳ của Hội nghị toàn thế giới Tổ chức

Liên Hợp Quốc về giáo dục, khoa học và văn hoá lựa chọn. Số lượng các nước thành viên của ủy ban sẽ tăng lên 21 kế từ kỳ họp thường kỳ của Hội nghị toàn

thể sau khi Công ước này có hiệu lực đối với ít nhất 40 quốc gia.

4.1.3. Văn bản pháp luật và bộ máy quản lý di sản văn hóa ở Việt Nam.

4.1.3.1. Luật di sản văn hóa (ngày 29 tháng 06 năm 2001).

Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đông các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của đi sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Để bảo vệ và phát huy giá trỊ di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân

tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa thế giới; để tăng cường hiệu lực

quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992; luật Di sản văn hóa quy định :

Điều 1: Di sản văn hóa quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hóa phi

vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tỉnh thần, vật chất có giá trị lịch

sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 2: Luật này quy định về các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị đi

sản văn hóa; xác định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với di sản văn

hóa ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Một phần của tài liệu Quản lý di sản văn hóa việt nam (Trang 46 - 49)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(72 trang)