Đặc điểm của quy phạm pháp luật

Một phần của tài liệu ĐỀ CƯƠNG LÝ LUẬN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT ÔN VÀ THI VĂN BẰNG 2 CÔNG AN 2021 (Trang 50 - 57)

C. Tiền đề tư tưởng – chính trị

2. Đặc điểm của quy phạm pháp luật

* Quy phạm pháp luật là một loại quy phạm xã hội nên nó có tất cả các đặc điếm của một quy phạm xã hỏi, đó là:

- Quy phạm pháp luật là khuôn mẫu, chuẩn mực để định hướng cho nhận thức và hướng dẫn cách xử sự cho mọi người trong xã hội, để bất kỳ ai khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh do nó dự liệu thì đều phải xử sự theo những cách thức mà nó đã nêu ra. Căn cứ vào quy phạm pháp luật, các chủ thể sẽ biết mình được làm gì, không được làm gì, phải làm gì và làm như thế nào khi ở vào một điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Ví dụ, căn cứ vào các quy tắc của luật giao thông đường bộ, người tham gia giao thông sẽ biết mình được làm gì, không được làm gì, phải làm gì và làm như nào khi tham gia giao thông trên đường bộ.

- Quy phạm pháp luật là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người. Căn cứ vào quy phạm pháp luật có thể xác định được hành vi nào là hợp pháp, hành vi nào là trái pháp luật, hoạt động nào mang tính pháp lý và hoạt động nào không mang tính pháp lý.

- quy phạm pháp luật được đặt ra không phải cho một chủ thể cụ thế hay một tổ chức, cá nhân cụ thể mà là cho tất cả các tổ chức và cá nhân tham gia vào quan hệ xã hội do nó điều chỉnh. Ví dụ: các quy phạm trong luật giao thông đường bộ được đặt ra cho tất cả các chủ thể tham gia giao thông trên đường bộ.

- quy phạm pháp luật được thực hiện nhiều lần trong thực tế cuộc sống cho đến khi nó bị sửa đổi, bãi bỏ hoặc huỷ bỏ, bởi yì nó được ban hành không phải để điều chỉnh một quan hệ xã hội cụ thể, một trường họp cụ thể mà để điều chỉnh một quan hệ xã hội chung, tức là mọi trường hợp, khi điều kiện hoặc hoàn cảnh do nó dự kiến xảy ra.

B. Quy phạm pháp luật chỉ do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện nên nó luôn luôn thể hiện ý chí của nhà nước (ý chí của chủ thể ban hành nhân danh nhà nước).

C. Quy phạm pháp luật là công cụ để điều chỉnh quan hệ xã hội nên nội dung của quy phạm pháp luật thường thế hiện hai mặt: cho phép và bắt buộc, tức là nó quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể tham gia vào quan hệ xã hội do nó điều chỉnh.

D.Là thành tố nhỏ nhất của hệ thống pháp luật nên quy phạm pháp luật có thê phản ánh tính giai cấp, tỉnh xã hội, tỉnh hệ thống của pháp luật và ở việt nam hiện tại, nó chủ yếu là những quy phạm thành văn.

B. Cấu trúc của quy phạm pháp luật

Trong nội dung này chỉ đề cập cơ cấu của các quy phạm pháp luật được thế hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật. Theo quan điếm truyền thống thì cơ cấu của quy phạm pháp luật bao gồm ba bộ phận: giả định, quy định và chế tài.

 Giả định

Là bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong cuộc sống mà khi gặp thì mọi người cần phải xử sự theo quy định của pháp luật và chỉ rõ chủ thể nào cần phải xử sự trong điều kiện, hoàn cảnh đó. Phần này còn nêu lên những điều kiện, hoàn cảnh để áp dụng các biện pháp tác động của nhà nước và chỉ rõ chủ thể nào sẽ là đối tượng để áp dụng chế tài hoặc các biện pháp tác động khác của nhà nước. Vì vậy, bộ phận giả định của quy phạm pháp luật thường trả lời cho các câu hỏi: ai? Khi nào? Trong điều kiện, hoàn cảnh nào?

Ví dụ 1: khoản 1 điều 63 luật giáo dục đại học năm 2012 quy định: “người học chương trình giáo dục đại học nếu được hưởng học bông và chi phỉ đào tạo do nhà nước cấp hoặc do nước ngoài tài trợ theo hiệp định kỷ kết với nhà nước việt nam, thì sau khỉ tốt nghiệp phải chấp hành sự điều động làm việc của nhà nước trong

thời gian ít nhất là gấp đồi thời gian được hưởng học bổng và chỉ phí đào tạo, nếu không chấp hành thì phải bồi hoàn học bổng, chỉ phỉ đào tạo. ”

Trong quy phạm trên thì phần giả định của nó bao gồm hai đoạn viết là: “người học chuông trình giáo dục đại học nếu được hưởng học bổng và chi phí đào tạo do nhà nước cấp hoặc do nước ngoài tài trợ theo hiệp định ký kết với nhà nước việt nam, thì sau khi tốt nghiệp” và “nếu không chấp hành”.

Giả định của quy phạm pháp luật gồm có hai loại là đon giản và phức tạp. Đon giản là giả định chỉ nêu lên một điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong thực tế cuộc sống (chẳng hạn, giả định trong quy phạm thuộc ví dụ trên). Phức tạp là giả định nêu lên nhiều điều kiện, hoàn cảnh có thế xảy ra trong cuộc sống và khi xảy ra tất cả các điều kiện, hoàn cảnh đó thì cá nhân, tổ chức được đề cập mới chịu sự tác động của quy phạm. Ví dụ 2: điều 19 nghị định số 71/2001/nđ-cp của chính phủ quy định: “trong trường hợp người được cấp dưỡng một lân lâm vào tình trạng khó khăn trầm trọng do bị tai nạn hoặc mắc bệnh hiếm nghèo mà người đã thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có khả năng thực tế đế cấp dưỡng cao hơn, thì phải cấp dưỡng bổ sung theo yêu câu của người được câp dưỡng”. Giả định của quy phạm pháp luật trên là giả định phức tạp.

 Quy định

Là bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên cách xử sự hay quy tắc xử sự cho chủ thể khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh đã nêu trong phần giả định của quy phạm.

Đây là phần trực tiếp thể hiện ý chí của nhà nước, là mệnh lệnh của nhà nước đối với các chủ thể, phần này thường chỉ rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể tham gia vào quan hệ xã hội do quy phạm điều chỉnh. Vì vậy, bộ phận quy định của quy phạm thường trả lời cho các câu hỏi: được làm gì? Không được làm gì? Phải làm gì và làm như thế nào?

Trong quy phạm thuộc ví dụ 1, bộ phận quy định gồm các từ: “phải chấp hành sự điều động làm việc của nhà nước trong thời gian ít nhất là gấp đôi thời gian được hưởng học bổng và chi phí đào tạo”.

Phần quy định của quy phạm bao gồm hai loại là dứt khoát và tùy nghi. Quy định dứt khoát là quy định chỉ nêu lên một xử sự rõ ràng, dứt khoát cho chủ thể. Ví dụ, phần quy định của quy phạm trong ví dụ 1 là quy định dứt khoát. Quy định tuỳ nghi là quy định nêu lên nhiều cách xử sự, cho phép chủ thể lựa chọn và thực hiện một trong các cách đó. Ví dụ 3: điều 44 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình;

nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung”. Bộ phận quy định của quy phạm này là cụm từ “có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung” và là quy định tùy nghi.

 Chế tài

Là bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên các biện pháp cưỡng chế mang tính chất trừng phạt mà nhà nước dự kiến có thể áp dụng đối với các chủ thể được nêu trong phần giả định của quy phạm pháp luật khi họ vi phạm pháp luật, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ những nghĩa vụ pháp lý đã được nêu trong bộ phận quy định của quy phạm pháp luật.

Chế tài của quy phạm pháp luật thuờng trả lời cho các câu hỏi: chủ thể đuợc nêu trong phần giả định của quy phạm có thể phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi gì hoặc biện pháp cưỡng chế nào nếu vi phạm pháp luật; hoặc các chủ thể có thẩm quyền áp dụng có thể áp dụng những biện pháp cưỡng chế nào đối với các chủ thể vi phạm pháp luật?

Ở quy phạm được nêu trong ví dụ 1, cụm từ: “thì phải bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo” là bộ phận chế tài của quy phạm này.

Chế tài là một trong những biện pháp quan trọng để đảm bảo cho các quy định (những đòi hỏi, yêu cầu) của pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh trong thực tế, bởi vì, nó nêu lên các biện pháp cưỡng chế nhà nước nhằm trừng phạt các chủ thể vi phạm pháp luật và nhằm răn đe, phòng ngừa sự vi phạm pháp luật có thể xảy ra trong thực tế.

Chế tài của quy phạm pháp luật có thể cố định, tức là chỉ nêu lên một biện pháp cưỡng chế nhà nước, chẳng hạn, chế tài của quy phạm trong ví dụ 1; song cũng có thể là không cố định, tức là nêu lên nhiều biện pháp cưỡng chế nhà nước, cho phép các chủ thể có thẩm quyền áp dụng có thể lựa chọn và áp dụng một trong các biện pháp đó tùy theo mức độ vi phạm của chủ thể vi phạm. Ví dụ, khoản 1 điều 185 bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình như sau: “người nào đối xử tồi tệ hoặc có hành vỉ bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cả ỉ tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 thảng đến 03 năm:

A) thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thế xác, tỉnh thần;

B)đã bị xử phạt vỉ phạm hành chính về hành vỉ này mà còn vỉ phạm. ”

Trong quy phạm trên, bộ phận chế tài gồm các từ “thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” vằ là chế tài không cố định.

Chế tài của các quy phạm pháp luật còn có thể được chia thành các loại như:

chế tài hình sự (được quy định trong bộ luật hình sự); chế tài hành chính (được quy định trong luật xử lý vi phạm hành chính và các nghị định về xử lý vi phạm hành chính); chế tài kỷ luật (được quy định trong nhiều văn bản như luật cán bộ, công chức, luật viên chức, nội quy, quy chế do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành...); chế tài dân sự (được quy định trong bộ luật dân sự, bộ luật hình sự...).

Ngoài chế tài, để bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, nhà nước còn quy định các biện pháp tác động khác như: khen thưởng, khuyến khích về vật chất, tinh thần hoặc các lợi ích khác cho các chủ thể có thành tích trong học tập, công tác, phục vụ...; các biện pháp pháp lý bất lợi nhưng không mang tính chất trừng phạt... Vì thế, bộ phận thứ ba của quy phạm pháp luật nên gọi là biện pháp tác động của nhà nước hay biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật thì sẽ bao quát và chính xác hơn.

Trên đây là cơ cấu của quy phạm pháp luật, riêng quy phạm xung đột là loại quy phạm pháp luật đặc biệt, không trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ pháp lỷ cho các chủ thể hoặc các biện pháp tác động của nhà nước đối với các chủ thể mà chỉ nêu lên văn bản quy phạm pháp luật nào hoặc pháp luật của nước nào sẽ được lựa chọn để áp dụng thì cơ cấu của nó chỉ gồm hai phần là phạm vi và hệ thuộc.

Trong đó phạm vi là phần nêu lên quan hệ xã hội nào sẽ được điều chỉnh bởi quy phạm đó, còn hệ thuộc là phần nêu lên văn bản quy phạm pháp luật nào hoặc pháp luật của nước nào sẽ được lựa chọn để áp dụng.

Câu 23. Trình bày vấn đề hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật?

- Quy phạm pháp luật là quy tắc hành vi thống nhất, khuôn mẫu, Bắt buộc do nhà nước xã hội chủ nghĩa đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí Của nhân dân lao động nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội.

- Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật (vbqppl) là tính bắt buộc thi hành của văn bản quy phạm pháp luật trong một giai đoạn nhất định, trên một không gian nhất định và đối với những chủ thể pháp luật nhất định (cá nhân, cơ quan, tổ chức).

* Hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật

Để mỗi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đi vào cuộc sống phát huy tác dụng điều chỉnh các quan hệ xã hội theo đúng mục đích đặt ra phải xác định được giới hạn hiệu lực của chúng.

* Văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thi hành theo thời gian, không gian và nhóm đối tượng nhất định

- Hiệu lực theo thời gian

+ Theo thời gian, hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật được tính từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực đến khi chấm dứt hiệu lực. Theo quy định ở nước ta hiện nay có 2 cách tính thời điểm bắt đầu có hiệu lực của văn bản quy phạm Pháp luật

+ tính từ thời điểm văn bản quy phạm pháp luật được công bố hay thông qua;

+ sau khi được công bố một thời gian nhất định; trường hợp này thời điểm có hiệu lực thường được quy định ngay trong văn bản quy phạm pháp luật Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực khi: có văn bản mới thay thế; Hết hiệu lực ghi ngay trong văn bản quy phạm pháp luật.

- Hiệu lực theo không gian

+ Giới hạn tác động theo không gian của văn bản quy phạm pháp luật được xác định theo lãnh thổ quốc gia hay một vùng, một địa phương nhất định.

+ văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành thông thường có hiệu lực thi hành trên toàn quốc.

+ văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành có hiệu lực thi hành ở địa phương mình.

- Hiệu lực về đối tượng áp dụng

+ Đối tượng áp dụng của văn bản quy phạm pháp luật bao gồm cá nhân, tổ Chức và những mối quan hệ mà văn bản đó cần phát huy hiệu lực. Thông thường các văn bản có hiệu lực đối với tất cả các dối tượng trong Phạm vi lãnh thổ mà văn bản đó có hiệu lực về không gian.

+ Tuy nhiên trong một số trường hợp các đối tượng có thể được xác định rộng hơn hoặc hẹp hơn. Khi đó sẽ được quy định cụ thể trong văn bản quy phạm pháp luật.

Câu 24. Phân tích khái niệm, các đặc điểm và cấu trúc của quan hệ pháp luật.

Cho ví dụ minh hoạ?

* Quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của quan hệ xã hội, xuất hiện dưới tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật.

* Quan hệ pháp luật có những đặcđiểm sau đây:

Một phần của tài liệu ĐỀ CƯƠNG LÝ LUẬN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT ÔN VÀ THI VĂN BẰNG 2 CÔNG AN 2021 (Trang 50 - 57)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(107 trang)
w