B. MƯU KẾ TAM QUỐC CHÍ (48 MƯU KẾ)
39. MUỐN BẮT PHẢI THẢ - KHỔNG MINH BẮT MẠNH HOẠCH
Sau trận thứ sáu đánh với Khổng Minh, Man binh còn khoảng ngàn người đều bị thương tích.
Mạnh Hoạch bèn hỏi :
- Binh ta phần ngã lòng, phần bị thương. Bấy giờ phải làm sao đánh với Khổng Minh ?
Đái Lai đáp :
- Lúc này, binh trong nước khó dùng được vì bị Khổng Minh mua chuộc rồi.
Nay, nước Ô Qua có Ngột Đột Cốt, với hàng mười vạn binh, thảy đều mặc giáp bằng mây ngâm dầu phơi khô gươm chém không được, tên bắn không thủng. Y lại có tài điều binh. Vậy Đại vương hãy viết thư sang cầu cứu, ắt bắt được Khổng Minh.
Mạnh Hoạch nói :
- Vậy phải cầu cứu mới xong.
Nói rồi liền lên ngựa ra đi đến nước Ô Qua, Mạnh Hoạch tìm đến động của Ngột Đột Cốt mà kể sự tình.
Đột Cốt nói :
- Ngươi chớ lo, ta sẽ tấn binh cứu giúp.
Mạnh Hoạch cả mừng lui về.
Sau đó Đột Cốt sai hai tướng là Thô An và Hồ Nê dẫn binh vượt sông Đào Hoa Thủy, có lá đào rụng quanh năm, nước sông nếu người ngoài uống thì chết mà người địa phương uống lại thêm sức mạnh.
Khi đến nơi, Đột Cốt truyền đóng trại chờ binh Thục.
Trong khi đó, Khổng Minh được tin báo Mạnh Hoạch đã cầu cứu chúa Ô Qua, hiện đóng tại mé sông Đào Hoa, bèn thúc binh kéo thẳng tới mé sông đóng trại. Lại khiến Nguỵ Diên đến khiêu chiến.
Đột Cốt thấy binh Thục đến liền xuất trận.
Nguỵ Diên hạ lệnh bắn cung, không ngờ binh Ô Qua mình mặc giáp mây, tên bắn không thủng, gươm giáo đâm không đứt. Binh Nguỵ Diên thất kinh cả loạn, còn binh của Đột Cốt thấy vậy, ngồi cười.
Nguỵ Diên thua trận về trại thưa với Khổng Minh.
Khổng Minh bèn lên xe nhỏ đi quan sát tứ phía.
Khi đến một hòn núi, toàn đá dựng thành chồng, lại có một cái hang ăn thông vào núi. Khổng Minh bèn kêu người bản xứ đến mà hỏi thì được biết chỗ ấy là Bàng Xà Cốc, ăn thông với sông Đào Hoa, và một ngả ăn thông với Tam Giang thành.
Khổng Minh cả mừng, tức tốc truyền tướng sĩ đem mười cỗ xe sơn đen của mình và dùng một ngàn cây tre làm theo y kế.
Lại đem bốn bộ binh giữ chặt hai cửa hang Bàng Xà. Công việc phải làm xong trong nửa tháng. Mã Đại lãnh kế ra đi.
Khổng Minh kêu Triệu Vân đến dặn :
- Ngươi phải đến phía sau Bàng Xà bảo thủ ở đó.
Triệu Vân lãnh kế ra đi.
Khổng Minh lại sai Nguỵ Diên đem ba ngàn binh đến sông Đào Hoa đóng trại. Mỗi ngày phải đánh với Đột Cốt và trong nửa tháng phải thua 15 trận, bỏ 7 trại cho chúng chiếm. Nguỵ Diên lãnh mạng ra đi.
Còn Mạnh Hoạch nói với Đột Cốt rằng :
- Khổng Minh hay dùng quỷ kế lắm, chúng ta chớ nên khinh địch.
Đột Cốt thưa :
- Đại vương chớ lo. Tôi biết điều đó nên đã đề phòng rất cẩn thận.
Hai người đang thương nghị bỗng có tin báo binh Thục kéo đến đóng nơi mé sông Đào Hoa.
Đột Cốt vội kéo quân đến công hãm.
Nguỵ Diên giả thua chạy dài. Đột Cốt bèn lui binh không chịu rượt theo.
Hôm sau, Nguỵ Diên lại đến đóng trại. Binh Man cũng qua sông đánh.
Nguỵ Diên sợ trái lệnh không dám tiến quân, bèn chém nhào một lát rồi bỏ chạy. Binh Man thừa thế rượt theo, rồi chiếm lấy trại Thục mà đóng quân.
Qua hôm sau, Ngột Đột Cốt lại thấy Nguỵ Diên đóng trại gần đó, bèn rượt theo đánh nữa. Nguỵ Diên lại giả thua bỏ chạy. Đột Cốt bèn chiếm trại.
Nguỵ Diên cứ việc thua đủ 15 trận và bỏ đủ bảy trại.
Mạnh Hoạch thấy Đột Cốt thắng trận liền liền thì trong lòng cả mừng mà rằng :
- Ta đã biết hết mưu của Khổng Minh, nên mới thắng hoài như vậy.
Nay cũng nên thừa dịp đánh một trận lớn ắt thành công.
Qua đến ngày thứ 16, Nguỵ Diên mới chỉnh đốn binh lại để cự, thấy Đột Cốt đích thân chỉ huy binh Man thì cả mừng, bèn đánh nhào một trận nữa, rồi hối quân bỏ gươm giáo mà chạy vào Bàng Xà Cốc.
Đột Cốt bèn đốc quân rượt theo.
Gần đến hang lại thấy vài chục cỗ xe sơn đen để ngổn ngang.
Đột Cốt nói với tướng sĩ :
- Đường này là đường chúng chuyển lương, nay thấy ta chúng trốn bỏ đi. Vậy hãy rượt cho gấp.
Khi đến cửa hang, không thấy binh Thục, chỉ thấy gỗ ngổn ngang, Đột Cốt bèn truyền dọn dẹp để lấy đường đuổi theo.
Bỗng thấy trước mặt lửa cháy rần rần.
Đột Cốt cả kinh khiến quân lui lại nhưng phía sau ai đã lấp gỗ cản đường, lại thấy những chiếc xe khi nãy chở toàn đồ dẫn lửa.
Bỗng có nhiều tiếng nổ vang rền, lửa cháy văng vào giáp mây của Man binh bốc cháy dữ dội.
Toàn bộ binh mã của Đột Cốt bị thiêu rụi trong Bàng Xà Cốc.
Khổng Minh thấy binh Man chết thui thì than :
- Tuy ta có công với xã tắc song không khỏi bị tổn thọ rồi !
Còn Mạnh Hoạch được tin Đột Cốt đã vây chặt Khổng Minh nơi Bàng Xà Cốc thì cả mừng bèn lên ngựa dẫn binh đến.
Vừa tới nơi thấy lửa cháy rần rần, mùi tanh khét bốc lên nôn mửa, thì biết mình đã trúng kế bèn quay ngựa trở lại.
Đi được ít dặm, bỗng có hai đạo binh phục xông ra chặn đường, cầm đầu là Mã Trung và Mã Đại.
Mạnh Hoạch cả kinh bỏ chạy.
Nhưng chưa chạy kịp thì Mã Đại đã bắt sống trên lưng ngựa. Man binh thảy đều xin hàng.
Khổng Minh, sau khi tuyên bố với các tướng về việc bất đắc dĩ phải dùng kế hoả thiêu này để tận diệt binh Man, bèn truyền dẫn Mạnh Hoạch vào. Mạnh Hoạch quỳ mọp.
Khổng Minh sai quân sĩ dắt Mạnh Hoạch đi ăn uống và nói :
- Thừa tướng thấy mặt ông sợ ông hổ thẹn, nên truyền chúng lôi cho ông đi ăn uống rồi thả ông về để kịp chiêu dụ binh mã mà đánh nữa.
Mạnh Hoạch rơi luỵ nói :
- Bảy lần bắt, bảy lần thả về, ta còn lòng nào không phục Thừa tướng.
Nói xong, kéo hết anh em, vợ con, đến xin hàng.
Khổng Minh nói :
- Nay ông đã phục rồi sao ?
Mạnh Hoạch nói :
- Cả nhà tôi thảy đều mang ơn Thừa tướng, lẽ nào tôi dám chẳng phục.
Khổng Minh bèn truyền thiết đãi yến tiệc rất trọng thể rồi lại truyền trả lại hết đất đã chiếm cho Mạnh Hoạch.
Lúc ấy quan Trưởng sử là Phí Vĩ can :
- Thừa tướng nên đặt quan cai trị, sao lại giao trả hết như vậy ?
Khổng Minh nói :
- Làm thế có ba điều bất lợi : Thứ nhất, để người ở lại thì phải để binh, mà để binh lại thì phải để lương.
Thứ hai, người Man mới phục nếu để người lại mà không để binh thì thật vô dụng.
Còn nếu để người lại mà Man binh không phục là điều bất lợi thứ ba.
Miễn biên cương ta được bình yên là tốt rồi.
Mọi người đều khâm phục.
LẠM BÀN
1. Kinh Dịch, quẻ Nhu, trên là Khảm (nước), Càn (trời) dưới, ý là trời đang mưa ; khảm có nghĩa là hiểm (nguy hiểm) ; sự nguy hiểm đang tồn tại, cần phải vượt qua nguy hiểm nhưng cần chờ đợi (nhu) mới thành công.
2. Muốn bắt thì phải thả (dục cầm cố túng), bắt là mục tiêu, thả chỉ là thủ đoạn, thả và bắt quan hệ mật thiết.
3. Khổng Minh áp dụng để bắt Mạnh Hoạch, gọi là thất cầm Mạnh Hoạch, bảy lần thả bảy lần bắt, rồi lại thả.
Khổng Minh muốn cho Mạnh Hoạch và người Man phải tâm phục, khẩu phục và đi đến thần phục, khiến cho biên cương được yên ổn.