4.2. Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn tại trại
4.2.3. Kết quả phòng bệnh cho lợn nái tại trại
Việc vệ sinh sát trùng chuồng trại là một khâu rất quan trọng trong chăn nuôi hiện nay. Vệ sinh chuồng trại tốt sẽ giảm bớt các yếu tố gây bệnh, mầm bệnh từ môi trường, vệ sinh gồm nhiều yếu tố: vệ sinh môi trường xung quanh, vệ sinh đất nước, vệ sinh chuồng trại.
Bảng 4.5. Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại
Stt Công việc Số lượng
(lần)
Kết quả (lần)
Tỷ lệ (lần) 1 Vệ sinh chuồng trại hàng ngày 125 125 100 2 Phun sát trùng định kỳ xung
quanh chuồng trại 11 11 100
3 Quét và rắc vôi đường đi 21 21 100
Công việc vệ sinh, sát trùng hàng ngày luôn được trại quan tâm và làm thường xuyên hàng ngày. Theo quy định của trại việc vệ sinh chuồng và rắc vôi đường đi sẽ được thực hiện ít nhất 1 lần/tuần. Phun sát trùng xung quanh chuồng trại được tiến hành định kỳ 2 lần/tuần. Chúng em đã thực hiện đúng theo yêu cầu, quy định của trại về công tác vệ sịnh sát trùng hàng ngày.
4.2.3.2. Kết quả công tác tiêm phòng
Bảng 4.6. Kết quả phòng bệnh lợn nái sinh sản và lợn con tại trại Loại lợn Bệnh được phòng
Số lượng được tiêm (con)
Số lợn an toàn sau tiêm
(con)
Tỷ lệ (%)
Lợn nái Lở mồm long móng 40 40 100
E.coli 34 34 100
Dịch tả 40 40 100
Tai xanh 40 40 100
Giả dại 40 40 100
3 bệnh kép (Lepto, khô thai, đóng dấu)
40 40 100
Lợn con Cho uống Baytril 145 145 100
Cầu trùng (Coxzuril) 145 145 100
Thiếu máu lợn con (Fe+B12)
145 145 100
Tai xanh 114 114 100
Glasser 57 57 100
Suyễn (Respisure-one) 116 116 100
E.coli 83 83 100
Kết quả ở bảng 4.6 cho thấy trại đã thực hiện nghiêm ngặt các quy trình tiêm phòng vaccine cần thiết phòng bệnh trên đàn lợn nái và lợn con. Trong quá trình thực tập tại trại em đã được trưc tiếp tiêm phòng các loại vaccine như LMLM, E.Coli, và lợn nái sau khi đẻ tiêm amoxillin để chống viêm và oxytoxin trong 3 - 4 ngày để đẩy hết nhau thai còn sót lại ra ngoài phòng trường hợp gây ra các bệnh về đường sinh dục ở nái sinh sản.
Quy trình tiêm vaccine phòng bệnh cho đàn lợn con như sau: sau khi lợn con được đẻ ra 12h sẽ được cho uống baytril hoặc Octacin 1% phòng bệnh tiêu chảy, 3 ngày cho uống Coxzuril để phòng bệnh cầu trùng và tiêm prolongal để phòng bệnh thiếu máu, một tuần đầu sau đẻ lợn con sẽ được tiêm phòng vaccine suyễn 1 + glasser 1, lợn con 7 ngày tuổi cho đến 10 ngày tuổi được tiêm vaccine E.coli phòng bệnh E. coli sưng phù đầu, tuần thứ 2 sau khi đẻ lợn con sẽ được tiêm vaccine PRRS để phòng bệnh tai xanh, tuần thứ 3 sau khi đẻ lợn con sẽ được tiêm phòng vaccine suyễn 2 + glasser 2.
Bên cạnh đó cần phải kết hợp với các biện pháp phòng bệnh, cần phải thực hiện chúng một cách song song để vừa nâng cao được chất lượng sản phẩm, vừa phòng ngừa được tình hình dịch bệnh xảy ra làm ảnh hưởng đến kinh tế.
4.2.3.3. Kết quả công tác chẩn đoán bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con tại trại Bảng 4.7. Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái và lợn con tại trại Loại lợn Tên bệnh
Tổng số lợn theo dõi
(con)
Tổng số lợn mắc bệnh
(con)
Tỷ lệ (%)
Lợn nái
Viêm tử cung 40 6 15,00
Lòi dom 40 1 2,50
Viêm khớp 40 3 7,50
Hội chúng hô hấp
ở lợn (hậu bị) 20 20 100
Lợn con Tiêu chảy 145 35 24,13
Viêm khớp 145 2 1,40
Bảng 4.7 là kết quả tình hình mắc bệnh ở lợn nái cũng như lợn con tại trại. Ở lợn nái hậu bị tỷ lệ mắc bệnh về hô hấp là cao nhất chiếm 100%, nguyên nhân có thể do lợn chưa được cách li đủ thời gian cách ly ít nhất một tháng để theo dõi, do trong quá trình vận chuyển lợn bị ngạt do số lượng lợn nhốt trên xe quá chật, do nhiệt độ, hoặc do chúng đã có sẵn mần bệnh, lợn có biểu hiện chán ăn, bỏ ăn, sốt, kỹ sư đã đưa ra phác đồ điều trị nhưng vẫn không khỏi, kỹ thuật trại đã yêu cầu lấy mẫu máu mang đi xét nghiệm, và kết quả là loại thải hết. Đối với lợn nái, các bệnh lợn mắc nhiều là bệnh viêm tử cung là cao nhất chiếm 15%, sau đó là bệnh viêm khớp chiếm tỷ lệ 7,5% và thấp nhất là bệnh lòi dom chiếm 2,5%. Tỷ lệ lợn nái ở trại mắc bệnh viêm tử cung cao là do trong quá trình phối phương pháp phối không đúng kỹ thuật, dụng cụ không đảm bảo vệ sinh không được bảo quản tốt, cũng có thể do lợn nái sau khi đẻ không được vệ sinh bộ phận sinh dục tốt dẫn đến vi khuẩn xâm nhập gây viêm.
Tình hình mắc bệnh ở lợn con qua bảng trên trong 145 lợn theo dõi có 35 lợn con bệnh tiêu chảy chiếm 24,13%, 2 con viêm khớp chiếm 1,4%. Nguyên nhân là do bẩm sinh, sàn bẩn, lợn con mới đẻ sức đề kháng yếu, nhiệt độ chuồng nuôi không hợp lý lợn con dễ bị ảnh hưởng và bị vi sinh vật xâm hại.
4.2.3.4. Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản và lợn con tại trại
Bỏ cột thuốc điều trị, liệu trình ở Bảng 4.8, viết thành phác đồ điều trị để ở trước hoăc sau bảng 4.8
Bảng 4.8. Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái và lợn con tại trại
Loại
lợn Tên bệnh Số lợn mắc bệnh (con)
Số lợn con điều trị (con)
Tỷ lệ (%)
Khỏi Không khỏi Khỏi Không khỏi
Lợn nái
Viêm tử
cung 6 5 1 83,44 16,66
Lòi dom 1 0 1 0 100
Viêm
khớp 3 2 1 66,66 33,44
Hội chứng hô hấp (hậu bị)
20 0 20 0 100
Lợn con
Tiêu chảy 35 30 5 85,71 14,28
Viêm
khớp 2 2 0 100 0
Kết quả bảng 4.8 cho ta biết được kết quả điều trị một số bệnh trên đàn lợn nái tại trại, bệnh viêm tử cung ở lợn nái đạt tỷ lệ khỏi khá cao 83,44%, thấp nhất là bệnh hội chứng hô hấp ở lợn nái hậu bị với tỷ lệ không khỏi là 100%.
Bệnh tiêu chảy ở lợn con đạt tỷ lệ khỏi bệnh chiếm 85,71%, bệnh viêm khớp ở lợn con chiếm tỷ lệ khỏi cao đạt 100%. Do phát hiện sớm và đưa ra hướng điều trị đúng đắn nhanh chóng nên tỷ lệ điều trị khỏi đạt kết quả cao như bệnh viêm khớp ở lợn con và lợn nái hay bệnh tiêu chảy ở lợn con, viêm tử cung ở lợn nái.
Nguyên nhân bệnh hội chứng hô hấp ở lợn hậu bị không đạt kết quả khỏi bệnh là do lợn nhập về chưa cách ly đủ thời gian để theo dõi và kiểm tra xem có mầm bệnh, an toàn hay không. Phác đồ điều trị bệnh tại trại:
Bệnh viêm tử cung:
Gentamycin:15ml Amox: 10ml
Catosal hoặc Gluco K-C: 15ml Thụt rửa bằng nước muối sinh lý Điều trị đến khi khỏi.
Bệnh lòi dom:
Tiến hành xử lý nhét phần lồi vào rồi khâu lại, kết hợp sử dụng Amoxi 15% LA: 15ml.
Bệnh viêm khớp:
Amoxi LA: 10ml Dexa: 3ml
Catosal: 7ml
Điều trị 3-5 ngày.
Lincomycin 10%: 12ml Dexa: 8ml
Điều trị 3-5 ngày Ketoten: 7ml Catosal:7ml Điều trị 3-5 ngày.
Catosal: 15ml Amoxi LA: 20ml Vitamin C: 15ml Điều trị 3-5 ngày Kết hợp xịt derma.
Hội chứng hô hấp (hậu bị):
Dynamutylin: 8ml Gluco K-C: 15ml Điều trị 5-7 ngày.
Bệnh tiêu chảy ở lợn con:
Clamoxyl: 0,5 ml/con Catosal: 1ml/con
Nhỏ Octacin 1% hoặc Baytril: 0,5ml/con Điều trị 3-5 ngày.
Bệnh viêm khớp ở lợn con:
Dexa: 0,5 ml/con Catosal: 1ml/con Xịt Derma
Điều trị 3-5 ngày.
Qua quá trình được tham gia điều trị cùng với kỹ thuật trại em đã rút ra được bài học, kinh nghiệm tích luỹ cho bản thân nhằm hạn chế tỷ lệ mắc bệnh trên lợn nái và lợn con như sau:
- Cần phải phát hiện bệnh sớm kịp thời để công tác điều trị được hiệu quả.
- Chuồng trại phải được giữ khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt, vệ sinh chuồng phải được thực hiện nghiêm ngặt, hạn chế bụi bẩn trong chuồng nuôi.
- Để hạn chế lợn con mắc bệnh tiêu chảy cần cho lợn con bú sữa đầu ngay sau khi đẻ và cần phải giữ ấm cơ thể cho lợn con.
- Không can thiệp khi thấy lợn đẻ bình thường.
- Sử dụng đúng thuốc, kết hợp với chăm sóc nuôi dưỡng tốt, nâng cao sức đề kháng cho con vật.
4.2.3.5. Kết quả quy trình chăm sóc lợn con
Bảng 4.9. Kết quả thực hiện các thao tác kỹ thuật trên lợn con
Stt Tên công việc Số con (con)
Số con được thực hiện
(con)
Tỷ lệ (%)
1 Mài nanh, cắt đuôi, cân 145 145 100
2 Nhỏ thuốc Octacin 1% 145 145 100
3 Nhỏ thuốc Coxzuri 5% 145 145 100
4 Tiêm sắt Fe+B12 145 145 100
5 Thiến lợn đực con 145 64 44,14
Trong thời gian thực tập em đã được thực hiện nhiều thao tác và tích luỹ cho bả thân nhiều kỹ năng nghề trên đàn lợn con. Công việc mài nanh, cắt đuôi, tiêm Fe+B12 và cho uống Octacin 1% Coxzuril 5% cho lợn con là được thực hiện nhiều nhất với số lượng là 145 con trên tổng số 145 con chiếm tỷ lệ 100%.
Lợn con sau khi sinh phải được mài nanh, bấm đuôi thường là 12h sau khi đẻ
nếu không sẽ làm tổn thương vú lợn mẹ cũng như tránh được việc lợn con cắn lẫn nhau gây xây xát mặt và sau đó sẽ được cho uống Octacin 1% để phòng tiêu chảy.
Khi 3 ngày tuổi lợn được tiêm Fe+B12 giúp phòng bệnh thiếu máu, tăng cường sức đề kháng ở lợn con và tiêm với liều lượng 2ml/con.
Khi lợn được từ 7 - 10 ngày tuổi thì tiến hành thiến cho lợn con, số lợn con em được thiến là 64 con chiếm tỷ lệ 44,14% so với tổng lợn con đực toàn đàn.
Phần 5