5.1. Tranh chấp trong kinh doanh và việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh 5.1.1. Khái niệm Tranh chấp trong kinh doanh
Tranh chấp trong kinh doanh là những mâu thuẫn hay bất đồng liên quan đến quyền và lợi ích kinh tế của các tổ chức, cá nhân khi tham gia vào hoạt động kinh doanh, thương mại.
Ví dụ: tranh chấp về hợp đồng kinh tế; tranh chấp giữa các thành viên công ty với công ty trong quá trình thành lập, hoạt động, giải thể công ty; tranh chấp liên quan đến mua bán chứng khoán; tranh chấp về liên doanh, liên kết;....
5.1.2. Các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh
• Thương lượng
Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp không cần đến người thứ ba.
Các bên cùng nhau trình bày quan điểm, tìm ra các biện pháp thích hợp để đi đến thống nhất giải quyết các bất đồng.
• Hòa giải
Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh có sự tham gia của bên thứ ba độc lập do hai bên cùng chấp nhận hay chỉ định đóng vai trò trung gian để hỗ trợ các bên nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột.
• Giải quyết tại trọng tài hoặc tòa án
Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp do các bên lựa chọn, trong đó trọng tài viên sau khi nghe các bên trình bày sẽ ra quyết định có tính bắt buộc đối với các bên tranh chấp.
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bằng toà án là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán nhà nước, nhân danh quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành.
• Một số hình thức khác: Đánh giá của chuyên gia, Thuê thẩm phán, Phiên toà rút gọn.
5.2. Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bằng trọng tài thương mại
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên tự nguyện lựa chọn, theo đó, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giao vụ tranh chấp cho bên thứ ba trung lập giải quyết và quyết định trọng tài có hiệu lực ràng buộc đối với các bên tranh chấp.
Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài:
- Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
- Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.
- Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.
5.2.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
- Trọng tài viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thoả thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội.
Trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi có thoả thuận giữa các bên về việc đưa tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài thương mại. Thoả thuận trọng tài phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức tương đương văn bản, có thể là một điều khoản trong hợp đồng hoặc là một thoả thuận riêng độc lập với hợp đồng. Trong trường hợp vụ tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài, nếu một bên khởi kiện tại toà án thì toà án từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu.
Các bên có quyền lựa chọn Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài do các bên thành lập để giải quyết vụ tranh chấp theo quy định về tố tụng trọng tài của trung tâm, chọn các trung tâm trọng tài, chọn trọng tài viên, chọn địa điểm tiến hành, và thoả thuận các quy tắc tố tụng của trọng tài. Trong quá trình tố tụng, các bên có quyền thoả thuận giải quyết hay chấm dứt tố tụng trọng tài.
- Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, không một ai được can thiệp vào hoạt động của trọng tài viên. Các trọng tài viên trong hội đồng trọng tài bình đẳng với nhau, xét xử độc lập căn cứ vào những điều khoản của hợp đồng và các quy định của pháp luật hiện hành.
- Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
Các bên tranh chấp hoàn toàn có quyền như nhau trong việc lựa chọn, khước từ trọng tài viên, lựa chọn địa điểm, đưa ra yêu cầu, lý lẽ biện minh và chứng cứ để trọng tài
viên xem xét. Trong quan hệ tranh chấp, các bên có địa vị pháp lý như nhau và trong tố tụng trọng tài các bên có tư cách tố tụng bình đẳng với nhau trong tất cả mọi hoạt động.
- Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
Các phiên xét xử trọng tài không được tổ chức công khai, chỉ có các bên nhận được phán quyết. Các điều khoản về tính bí mật của hợp đồng phải được tuân thủ trong thủ tục trọng tài.
- Phán quyết của trọng tài là chung thẩm.
Khi Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết, phán quyết này không thể xét lại trừ một số trường hợp đặc biệt. Các bên không có quyền kháng cáo, chỉ được quyền yêu cầu Toà án huỷ quyết định trọng tài trong một số trường hợp. Toà án không xét xử lại vụ án mà chỉ kiểm tra tính hợp pháp của quyết định trọng tài.
5.3. Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại tòa án
5.3.1. Thẩm quyền giải quyết các vụ việc kinh doanh, thương mại của tòa án nhân dân
Tranh chấp kinh doanh, thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động kinh doanh, thương mại. Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án bao gồm:
1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm:
a) Mua bán hàng hoá;
b) Cung ứng dịch vụ;
c) Phân phối;
d) Đại diện, đại lý;
đ) Ký gửi;
e) Thuê, cho thuê, thuê mua;
g) Xây dựng;
h) Tư vấn, kỹ thuật;
i) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa;
k) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển;
l) Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác;
m) Đầu tư, tài chính, ngân hàng;
n) Bảo hiểm;
o) Thăm dò, khai thác.
2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
3. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
4. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định.
Ngoài ra, có những việc phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại có thể yêu cầu toà án giải quyết gồm:
Những yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án:
1. Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại.
2. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
3. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước ngoài.
4. Các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định.
5.3.2. Nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại tòa án
a. Nguyên tắc tự định đoạt
Chỉ có nguyên đơn, bị đơn và người có quyền, nghĩa vụ liên quan mới có quyền quyết định khởi kiện hay không khởi kiện yêu cầu toà án giải quyết tranh chấp. Toà án
chỉ thụ lý giải quyết khi có yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu. Trong quá trình giải quyết tại toà án, các bên có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc tự thoả thuận với nhau mà không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
b. Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp những tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình và là căn cứ để toà án đưa ra phán quyết. Toà án không có trách nhiệm điều tra mà chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những điều kiện cần thiết.
c. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Tất cả các chủ thể kinh doanh, không kể địa vị pháp lý đều có sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự. Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
d. Nguyên tắc hoà giải
Hoà giải là một nguyên tắc quan trọng và bắt buộc trong tố tụng dân sự. Toà án có trách nhiệm hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự.