CHƯƠNG 3. CƠ SỞ SINH LÝ PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ
3.1. Cơ sở sinh lý phân loại các bài tập TDTT
Trong tập luyện TDTT cũng như trong cuộc sống hàng ngày (sinh hoạt, sản xuất,…), con người thực hiện rất nhiều các bài tập thể lực khác nhau.
Theo quan điểm sinh lý học, một tổ hợp các động tác liên quan chặt chẽ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định được gọi là một bài tập.
Trong thể thao, tổ hợp các động tác đó thường nhằm đạt được thành tích thể thao cao nhất nào đó (chạy, nhảy, ném, đá bóng,…).
Số lượng các bài tập thể thao rất là phong phú và đa dạng nên cần phải được phân thành từng nhóm. Trên cơ sở từng nhóm bài tập cụ thể, chúng ta sẽ đề ra được những phương pháp huấn luyện phù hợp với từng môn thể thao.
Trong sinh lý học TDTT, việc phân loại các bài tập thể thao dựa trên hai khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, là nhóm các bài tập có các phương pháp, phương tiện, chế độ tập luyện giống nhau.
Thứ hai, là nhóm các bài tập được sử dụng như nhau trong hệ thống giáo dục thể chất để tăng cường trạng thái chức năng của cùng một cơ quan, hệ cơ quan hoặc cùng một tố chất thể lực.
Cơ sở chính để phân loại sinh lý các bài tập thể thao là những biến đổi xảy ra trong cơ thể do hoạt động cơ bắp gây nên, đồng thời có tính đến cả công suất, thời gian, tính chất gắng sức, đặc điểm co cơ, đặc điểm điều khiển và các yếu tố khác nữa. Do đó có rất nhiều cách đánh giá và phân loại các bài tập thể thao dựa trên các quan điểm khác nhau, như sau:
- Dựa vào số lượng cơ tham gia vận động.
- Dựa vào hình thức hoạt động của cơ.
- Dựa vào kết cấu của động tác.
- Căn cứ vào cường độ vận động.
- Dựa vào sự cung cấp năng lượng.
- Căn cứ vào sự phát triển các tố chất thể lực.
3.1.1. Dựa vào số lượng cơ tham gia vận động Chia làm 3 loại như sau:
- Bài tập cục bộ: số cơ tham gia vận động < 1/4 tổng số cơ của cơ thể (ví dụ:
môn bắn súng, đánh cờ).
- Bài tập bộ phận: số cơ tham gia vận động dao động trong khoảng từ 1/4 đến 3/4 tổng số cơ của cơ thể (ví dụ: các động tác của bài tập thể dục, đứng tại chỗ đá bóng).
- Bài tập toàn thân: số cơ tham gia vận động > 3/4 tổng số cơ của cơ thể. Đa số các bài tập thể thao thuộc vào nhóm này (ví dụ: chạy bộ, đua xe đạp, chèo thuyền).
3.1.2. Dựa vào hình thức hoạt động của cơ
Các bài tập thể thao dựa vào hai hình thức co cơ được phân chia thành 2 loại:
bài tập động (với hình thức co cơ chủ yếu là đẳng trương) và bài tập tĩnh (với hình thức co cơ chủ yếu là đẳng trường).
- Bài tập động: có sự co duỗi của các cơ làm cho cơ thể hay một vài bộ phận của cơ thể di chuyển trong không gian. Đa số các bài tập thể thao thuộc vào nhóm này (ví dụ: đi bộ, chạy, nhảy, bơi lội).
- Bài tập tĩnh: khi thực hiện bài tập tĩnh, các cơ tham gia ở vào trạng thái căng tối đa liên tục để tạo ra một sức mạnh lớn nhất (gọi là sức mạnh tĩnh) nhằm giúp cho cơ thể giữ được tư thế tương đối ổn định hoặc giữ cho một trọng lượng nào đó (tạ hoặc thân người) được bất động trong một khoảng thời gian nhất định (ví dụ: động tác đứng tấn mã bộ, cử tạ và giữ tạ trong 3 giây, trồng chuối, hãm ngang trên vòng treo, ke trong xà đơn hoặc xà kép).
Trong thực tế, không có môn thể thao nào hoàn toàn là hoạt động tĩnh lực, mà hoạt động tĩnh lực chỉ xảy ra ở một giai đoạn nào đó của một động tác cụ thể. Nhìn chung các hoạt động thể lực được thực hiện bởi chế độ co cơ hỗn hợp tức là cả co cơ đẳng trương và co cơ đẳng trường, hay phối hợp hoạt động động lực và hoạt động tĩnh lực.
3.1.3. Dựa vào kết cấu của động tác
Sự phân loại dựa vào kết cấu của động tác, tức là dựa vào đặc điểm cấu trúc kỹ thuật động tác, các bài tập thể thao được phân chia làm 3 loại: bài tập không có chu kỳ, bài tập có chu kỳ và bài tập hỗn hợp.
- Bài tập không có chu kỳ: gồm nhiều động tác khác nhau được thực hiện một cách liên tục (ví dụ: bài tập nhảy ba bước, ném biên và đá phạt trong bóng đá, đẩy tạ, ném dĩa… kể cả bắn cung, bắn súng).
- Bài tập có chu kỳ: các động tác được lặp đi lặp lại nhiều lần theo chu kỳ, mặc dù có thể thay đổi về tần số và biên độ (ví dụ: đi bộ thể thao, chạy bộ, bơi lội, đua xe đạp, chèo thuyền, trượt tuyết).
- Bài tập hỗn hợp: là dạng bài tập có sự kết hợp giữa các động tác có chu kỳ và không có chu kỳ như nhảy cao, nhảy xa, ném lao, bóng rổ, bóng đá. Trong quá trình thực hiện, chạy là hoạt động có chu kỳ nhưng các động tác dậm nhảy, sút cầu môn, ném rổ, chuyền bóng thuộc về hoạt động không chu kỳ.
3.1.4. Căn cứ vào cường độ vận động
Theo cường độ hoạt động của cơ thì bài tập thể thao được chia ra làm 4 nhóm:
Bài tập có cường độ tối đa, bài tập có cường độ gần tối đa, bài tập có cường độ lớn và bài tập có cường độ trung bình.
- Bài tập có cường độ tối đa: là khi cơ thể hoạt động với tốc độ và sức mạnh lớn nhất, thời gian thực hiện bài tập không quá 30 giây. Ví dụ: chạy 100 – 200 m, bơi 25 – 50 m, đua xe đạp tốc độ 200 – 500 m, nhảy cao, nhảy xa, các môn ném đẩy, cử tạ.
- Bài tập có cường độ gần tối đa: là khi cơ thể hoạt động với tốc độ và sức mạnh gần tối đa, thời gian thực hiện từ 30 giây – 5 phút. Ví dụ: chạy 400 – 1500 m, bơi 200 m, đua xe đạp tốc độ 1 – 3 km, thể dục nhịp điệu, boxing.
- Bài tập có cường độ lớn: là khi cơ thể hoạt động với tốc độ và sức mạnh lớn, thời gian thực hiện từ 6 – 30 phút. Ví dụ: chạy 3000 – 5000 – 10000 m, bơi 800 – 1500 m, đua xe đạp 10 km.
- Bài tập có cường độ trung bình: là khi cơ thể hoạt động với tốc độ và sức mạnh trung bình, thời gian thực hiện từ 40 phút đến nhiều giờ. Ví dụ: chạy đường dài, việt dã, Marathon, bơi vài km, đua xe đạp 100 km.
Thi đấu các môn bóng có thể xem là vận động với cường độ lớn hoặc trung bình tùy theo trình độ VĐV và mức độ căng thẳng trong thi đấu.
3.1.5. Dựa vào sự cung cấp năng lượng
Các bài tập thể thao với cường độ vận động và thời gian thực hiện khác nhau sẽ sử dụng các nguồn năng lượng không giống nhau, dựa vào đó có thể chia các bài tập thể thao ra 3 dạng:
- Bài tập có tính chất yếm khí: là những bài tập mà phần năng lượng tạo ra nhờ quá trình yếm khí chiếm hơn 60% nhu cầu năng lượng.
- Bài tập có tính chất hiếu khí: là những bài tập mà năng lượng được tạo ra nhờ quá trình hiếu khí chiếm hơn 70% nhu cầu năng lượng.
- Bài tập có tính chất hỗn hợp: là những bài tập nằm ở khoảng giữa (quá trình tạo năng lượng hiếu khí và yếm khí có tỷ lệ gần bằng nhau).
3.1.6. Căn cứ vào sự phát triển các tố chất thể lực
Do số lượng bài tập trong các môn thể thao rất đa dạng, khi cơ hoạt động biểu hiện tố chất thể lực và năng lực vận động không giống nhau.
Chúng ta biết rằng, năng lực vận động biểu hiện ở 5 tố chất cơ bản: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, tố chất dẻo và tố chất khéo léo. Cho nên người ta chia ra 5 loại bài tập thể thao để phát triển 5 loại tố chất thể lực kể trên, ví dụ: loại bài tập thể thao phát triển sức nhanh như chạy cự ly ngắn, phát triển sức mạnh như cử tạ, phát triển sức bền như chạy cự ly dài,…
Tất nhiên trong thực tế ít có những loại bài tập chỉ dựa vào và phát triển một tố chất thể lực nào đó mà là kết hợp một số tố chất thể lực ưu thế, ví dụ như các môn ném đẩy cần sức mạnh bột phát (một dạng sức mạnh – nhanh).
3.1.7. Bảng phân loại sinh lý các bài tập thể thao
Pharphen đã phân loại các bài tập thể thao thành 2 nhóm là bài tập động và bài tập tĩnh (khái niệm và ví dụ như đã trình bày ở phần 3.1.2).
Trong nhóm bài tập động có:
Bài tập không chuẩn (bài tập theo tình huống): gồm nhiều động tác phức tạp, có trình tự không định trước mà thay đổi tùy theo các tình huống (ví dụ: các môn bóng, môn võ, vật).
Bài tập chuẩn: có trình tự các động tác đã được định trước như ở các môn điền kinh, bơi lội, bắn cung, bắn súng.
Bài tập định tính: là những bài tập mà thành tích không thể đo đếm, chỉ dựa vào cảm tính để cho điểm, như ở các môn thể dục dụng cụ, thể dục nhịp điệu, thể dục nghệ thuật, nhảy cầu.
Bài tập định lượng: là các bài tập mà thành tích có thể đo đếm được bằng các loại dụng cụ như thước đo chiều dài hoặc bằng đồng hồ đo thời gian.
Nhóm bài tập định lượng gồm có 2 dạng là bài tập có chu kỳ (khái niệm và ví dụ như đã trình bày ở phần 3.1.3.) và bài tập không có chu kỳ (khái niệm như đã trình bày ở phần 3.1.3., ví dụ: nhảy cao, nhảy xa, đẩy tạ, ném lao, ném dĩa).
Bài tập có chu kỳ khi thi đấu có nhiều cự ly khác nhau với các cường độ vận động khác nhau nên được chia ra 4 dạng là bài tập có cường độ tối đa, bài tập có cường độ gần tối đa, bài tập có cường độ lớn và bài tập có cường độ trung bình. Các loại bài tập này khác nhau về cường độ, tần số động tác, thời gian thực hiện, cự ly, tốc độ trung bình và những biến đổi sinh lý đặc trưng khi tiến hành.
Bài tập có cường độ tối đa: tần số động tác tối đa; thời gian thực hiện không quá 30 giây; cự ly: chạy 100 – 200 m, bơi 25 – 50 m, đua xe đạp tốc độ 200 – 500 m; tốc độ trung bình 9 – 10 m/s.
Bài tập có cường độ gần tối đa: tần số động tác cũng còn rất cao chỉ thấp hơn so với bài tập có cường độ tối đa; thời gian thực hiện từ 30 giây – 5 phút; cự ly: chạy 400 – 1500 m, bơi 200 m, đua xe đạp tốc độ 1 – 3 km; tốc độ trung bình đạt mức khoảng 7 – 8 m/s.
Bài tập có cường độ lớn: tần số động tác thấp hơn so với bài tập có cường độ tối đa và gần tối đa, mặc dù trong các đoạn nước rút VĐV vẫn phải phát huy tốc độ cao và đòi hỏi hưng phấn thần kinh tương đối lớn; thời gian thực hiện từ 6 – 30 phút;
cự ly: chạy 3000 – 5000 – 10000 m, bơi 800 – 1500 m, đua xe đạp 10 km; tốc độ trung bình 5 – 6 m/s.
Bài tập có cường độ trung bình: tần số động tác không cao; thời gian thực hiện từ 40 phút đến nhiều giờ; cự ly: chạy đường dài, việt dã, Marathon, bơi vài km, đua xe đạp 100 km; tốc độ trung bình 3 – 4 m/s.