Khái niệm và cơ sở sinh lý của sự hình thành kỹ năng động tác TDTT

Một phần của tài liệu Giáo trình sinh lý học thể dục thể thao (Trang 79 - 83)

CHƯƠNG 4. CƠ SỞ SINH LÝ CỦA QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH KỸ NĂNG ĐỘNG TÁC THỂ DỤC THỂ THAO

4.1. Khái niệm và cơ sở sinh lý của sự hình thành kỹ năng động tác TDTT

Kỹ năng động tác là khả năng thực hiện các động tác một cách thuần thục, nhanh chóng và chính xác, được hình thành trong cuộc sống cá thể do tập luyện.

- Về bản chất, đó chính là các phản xạ vận động có điều kiện phức tạp, nghĩa là chúng được hình thành theo cơ chế của đường liên hệ thần kinh tạm thời trên đại não. Đây là những phản xạ phức tạp vì tác nhân kích thích và phản ứng trả lời đều mới lạ: để đáp ứng lại kích thích vận động, cơ thể phải sử dụng một động tác mới

hoặc phải xây dựng một tổ hợp mới các động tác mà trước đó chưa có. Trong kỹ năng động tác có sự phối hợp của hai loại đường liên hệ thần kinh tạm thời, chúng được hình thành không chỉ đối với phần hướng tâm tức là phần thu nhận những tín hiệu (cảm giác) mà cả với phần vận động (ly tâm) của bộ máy vận động.

- Trong môn nhảy cao, tác nhân kích thích là xà ngang và phản xạ là một chuỗi các động tác liên hoàn, bao gồm chạy đà, dậm nhảy, bật cao kèm theo đá lăng để xoay người.

- Trong môn bóng bàn, tác nhân kích thích là quả bóng đang bay tới và phản xạ là di chuyển thân người và vận động tay cầm vợt để tạt hoặc đỡ bóng.

Như vậy kỹ năng động tác là phản ứng trả lời đối với các kích thích bằng một tổ hợp nhiều động tác theo một trình tự nhất định để tạo nên một hoạt động thống nhất, trong đó có đường liên hệ thần kinh tạm thời từ vùng cảm giác của vỏ não đến một phần của vùng vận động và có nhiều đường liên hệ giữa các phần của vùng vận động để tạo nên nhiều động tác liên tục khác nhau.

Trong quá trình thực hiện kỹ năng động tác ngoài vai trò của đại não (chịu trách nhiệm thần kinh phản xạ động tác) còn có vai trò của tiểu não (chịu trách nhiệm thần kinh phản xạ giữ thăng bằng), hành tủy và tủy sống (chịu trách nhiệm thần kinh phản xạ chức năng thực vật). Sự hình thành kỹ năng động tác bao giờ cũng làm xuất hiện các đường liên hệ thần kinh tạm thời giữa vùng vận động với các cơ quan dinh dưỡng, bởi sự biến đổi của các cơ quan dinh dưỡng phù hợp trong vận động sẽ đảm bảo cho bộ máy vận động hoạt động tốt và có hiệu quả hơn.

4.2. CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH KỸ NĂNG ĐỘNG TÁC VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

Quá trình tập luyện và hình thành kỹ năng động tác gồm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn lan tỏa hưng phấn: là giai đoạn mà quá trình hưng phấn chiếm ưu thế, hưng phấn dễ khuếch tán sang các vùng thần kinh khác lôi cuốn nhiều nhóm cơ thừa vào hoạt động và vì chưa phân biệt được kích thích tốt hay xấu, mạnh hay yếu nên gây ra phản xạ không phù hợp, tiêu hao nhiều năng lượng.

Ví dụ: khi mới bắt đầu tập kỹ thuật đập bóng trong bóng chuyền do chưa thực hiện đúng các giai đoạn kỹ thuật cho nên người tập nhảy lên đập bóng sớm hoặc muộn dẫn tới bóng có thể bị rúc lưới hay lực tác động vào bóng yếu hoặc không trúng bóng.

Việc học kỹ thuật động tác ở giai đoạn này thường phải dùng phương pháp phân chia để nắm từng chi tiết kỹ thuật đơn lẻ rồi lựa chọn và phối hợp các kỹ thuật đơn lẻ thành một động tác hoàn chỉnh và thống nhất.

- Giai đoạn tập trung hưng phấn: giai đoạn này có sự tập trung hưng phấn vào những vùng nhất định trên vỏ não làm hạn chế các động tác thừa đồng thời có sự tham gia của các dạng ức chế như ức chế phân biệt, ức chế trì hoãn nên các kỹ thuật động tác bắt đầu được hoàn thiện, tiêu hao ít năng lượng.

Nói chung, các phản xạ đều hợp lý và hiệu quả nhưng cũng chưa hoàn toàn ổn định nên dễ bị rối loạn khi mệt mỏi, khi điều kiện kích thích thay đổi hoặc không thuận lợi.

- Giai đoạn tự động hóa (giai đoạn ổn định hưng phấn): giai đoạn này có sự ổn định hưng phấn do đó không làm xuất hiện các động tác thừa. Lúc này các động tác đã được cũng cố vững chắc, thuần thục và trở nên tự động hóa. VĐV không cần quan tâm đến các động tác riêng lẻ, mà chỉ tập trung vào việc thực hiện chiến thuật và kết hợp hoạt động của các cơ quan trong cơ thể.

Các giai đoạn nêu trên của quá trình hình thành kỹ năng động tác chỉ có tính tương đối. Trong nhiều trường hợp, một hoặc hai giai đoạn không thể hiện rõ rệt (thường gặp ở các VĐV đã có trình độ tập luyện nhất định hoặc kỹ năng động tác mới gần giống kỹ năng động tác đã biết).

Thời gian hình thành kỹ năng động tác và thời gian của từng giai đoạn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như sau:

- Yếu tố thần kinh.

- Yếu tố thể lực chung và chuyên môn.

- Yếu tố trình độ tập luyện.

- Yếu tố phương pháp huấn luyện và phương pháp tập luyện.

- Độ khó của kỹ thuật động tác.

- Yếu tố sức khỏe, lứa tuổi, giới tính.

Ngoài các yếu tố trên thì trang thiết bị, dụng cụ, sân bãi, khí hậu, trạng thái tâm sinh lý của người tập cũng ảnh hưởng đến việc tiếp thu và hình thành kỹ năng động tác.

Kỹ năng động tác đã được ổn định và tự động hóa cũng sẽ mất dần theo thời gian nếu không được thường xuyên tập luyện. Song không phải tất cả các thành phần của kỹ năng động tác đều mất đi trong cùng một thời điểm. Các thành phần phức tạp nhất của của kỹ năng có thể bị biến đổi sau vài ngày, còn nếu nghỉ tập hàng tuần, hàng tháng, hàng năm thì chúng có thể bị mất đi hoàn toàn. Ví dụ: khi tập để nâng cao thành tích trong chạy ngắn (sức nhanh) nếu nghỉ tập vài tuần thì thành tích sẽ giảm xuống ngay.

Ngược lại có những thành phần vận động rất đơn giản nhưng lại tồn tại rất lâu, kể cả sau khi bỏ tập luyện hàng năm, thậm chí hàng chục năm. Ví dụ: kỹ năng bơi lội, đi xe đạp.

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tính ổn định của kỹ năng động tác, đó là:

- Sự giảm sút trạng thái chung của hệ thần kinh.

- Hoạt động trong điều kiện thiếu oxy.

- Thay đổi khí hậu.

- Thay đổi điều kiện tập luyện, thi đấu.

- Trạng thái tâm lý, bệnh lý và mệt mỏi.

Như vậy, chỉ cần một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng của kỹ năng bị thay đổi thì thành tích của người tập sẽ giảm xuống ngay.

Trong một số trường hợp và một số môn thể thao như chạy, bơi thì chương trình vận động cố định và không thay đổi. Tuy nhiên cũng có một số môn thể thao mỗi khi hoạt động thì lại phải thay đổi hoặc xây dựng một chương trình hoàn toàn mới. Ví dụ môn cờ vua hoặc cờ tướng, người chơi luôn phải xây dựng chương trình mới đối với từng nước cờ và còn phải thấy được hiệu quả của từng nước cờ này đối với nước cờ sau đó.

Như vậy việc xây dựng chương trình vận động là đặc tính quan trọng của việc hình thành và hoàn thiện kỹ năng động tác.

Trong một số trường hợp việc xây dựng chương trình rất phức tạp nhưng việc thực hiện lại rất dễ dàng. Ví dụ đi quân cờ. Ngược lại ở một số môn thể thao việc xây dựng chương trình lại rất đơn giản nhưng khi thực hiện lại rất khó khăn. Ví dụ thể dục dụng cụ, nhảy cầu, các môn nhảy và ném đẩy thì việc thực hiện và hoàn thiện chính xác các kỹ thuật là rất khó.

Một phần của tài liệu Giáo trình sinh lý học thể dục thể thao (Trang 79 - 83)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(151 trang)