CHƯƠNG 7. CÁC TRẠNG THÁI SINH LÝ CỦA CƠ THỂ XUẤT HIỆN
7.4. Các trạng thái trong quá trình vận động
Về bản chất, trạng thái bắt đầu vận động là giai đoạn thích nghi của cơ thể với những yêu cầu cao của vận động.
Khi mới bắt đầu vận động, từng chức năng cũng như toàn bộ cơ thể có những biến đổi đáng kể nhằm đảm bảo cho việc thực hiện hoạt động cơ bắp. Toàn bộ những biến đổi đó đều nhằm một mục đích là tìm ra một mức hoạt động phối hợp mới, phù hợp với yêu cầu của vận động.
Khi mới bắt đầu vận động, nếu không có khởi động thì khả năng vận động chưa đến mức cao nhất, vì hệ thần kinh chưa ở mức hưng phấn tối đa và các chức năng thực vật chưa phản ứng kịp. Ngay cả khi vận động với thời gian rất ngắn như chạy 100 m thì đến giây thứ 5 mới có tốc độ cao nhất. Đối với các loại vận động có thời gian kéo dài thì phải sau 5 – 10 phút mới ở mức vận động cao nhất, vì sau khi vận động được 1 phút thì nhịp tim mới tăng tối đa, sau 3 – 5 phút lưu lượng tim cao nhất, điều hòa hô hấp cũng phải sau vài phút mới đạt mức cao.
Sự biến đổi các chức năng trong trạng thái bắt đầu vận động diễn ra theo một số quy luật như sau:
* Sự tăng cường các chức năng xảy ra không đồng đều:
- Các chức năng vận động của cơ thể biến đổi nhanh hơn so với các chức năng dinh dưỡng.
- Số nhịp tim tăng nhanh hơn lực co bóp của tim từ đó dẫn đến lưu lượng tim tăng chậm.
- Tần số hô hấp tăng nhanh hơn khả năng hấp thụ oxy nên trong giai đoạn bắt đầu vận động chỉ sử dụng năng lượng do phân giải ATP, CP và phân giải yếm khí glucid (có tạo ra acid lactic).
* Cường độ vận động càng lớn thì sự tăng cường chức năng ban đầu xảy ra càng nhanh, vì vậy thời gian bắt đầu càng ngắn:
- Khi chạy Marathon thì thời gian để đạt được mức hấp thụ oxy cần thiết là sau khoảng 10 phút.
- Khi chạy 1500 m thì thời gian đó là sau chỉ khoảng 1,5 phút.
- Trình độ tập luyện càng cao có kết hợp với khởi động thì thời gian bắt đầu rất ngắn, mau đạt đến khả năng vận động tối đa.
7.4.2. Trạng thái cực điểm và hô hấp lần hai
Trong những hoạt động với cường độ cao hoặc là trong các hoạt động thể lực kéo dài, sau khi bắt đầu vận động vài phút thì trong cơ thể VĐV xuất hiện một trạng thái tạm thời đặc biệt gọi là cực điểm. Ở trạng thái này, khả năng hoạt động của cơ thể bị giảm sút tạm thời, có thể khắc phục được trong quá trình hoạt động.
* Các biểu hiện của trạng thái cực điểm:
- Khó thở, tức ngực, chóng mặt, đau cơ, không muốn vận động tiếp.
- Nhịp hô hấp tăng cao nhưng không sâu.
- Nhịp tim có thể đến 200 nhịp/phút nhưng lưu lượng tim chưa cao.
- Thân nhiệt tăng do bài tiết mồ hôi kém.
Thần kinh bị rối loạn làm ảnh hưởng đến sự phối hợp các động tác, có nhiều động tác thừa, khả năng thả lỏng cơ giảm.
Nguyên nhân là do cường độ vận động cao, trong lúc các chức năng thực vật chưa kịp đáp ứng nhu cầu rất cao của các cơ, hệ tim mạch và hô hấp chưa điều hòa làm tích tụ nhiều acid lactic và CO2 trong cơ và máu.
Để khắc phục “cực điểm”, VĐV cần phải có những nỗ lực ý chí rất lớn. Nếu vẫn tiếp tục hoạt động (phải kết hợp thở ra thật sâu để thải trừ bớt khí CO2 thừa nhằm khôi phục lại pH và phải giảm cường độ hoạt động) thì cực điểm sẽ chuyển sang một trạng thái dễ chịu, hô hấp trở lại bình thường. Trạng thái dễ chịu này được gọi là “hô hấp lần hai” hay còn gọi là hiện tượng thoát cực điểm, lúc này:
- Tần số hô hấp giảm, độ sâu hô hấp tăng lên.
- Tần số nhịp tim giảm.
- Hàm lượng CO2 trong máu và trong không khí thở ra giảm đi, một phần acid lactic bị phân giải, độ pH của máu tăng lên.
- Tăng bài biết mồ hôi làm tăng sự thoát nhiệt.
- Hoạt động thần kinh dần dần được ổn định.
Chứng tỏ rằng, trong trạng thái hô hấp lần hai cơ thể đã tìm ra sự phối hợp chức năng thích hợp và đã huy động được khả năng của mình để đáp ứng lại yêu cầu cao của vận động.
Thời gian xuất hiện và mức độ thể hiện của cực điểm phụ thuộc vào cường độ vận động, trong chạy 5000 m cực điểm thường xuất hiện vào phút thứ 4 – 6, nếu chạy cự ly dài hơn thì cực điểm xuất hiện muộn hơn. Đặc biệt, yếu tố này còn phụ thuộc vào trình độ tập luyện của VĐV (nếu trình độ tập luyện tốt có khởi động đầy đủ, chủ động tăng cường vận động từ từ thì cực điểm không xuất hiện).
7.4.3. Trạng thái ổn định
Trong các hoạt động thể lực kéo dài, thường là trong các loại vận động với cường độ lớn hoặc trung bình, sau khi qua trạng thái bắt đầu vận động, các chức năng của cơ thể sẽ ổn định ở một mức nhất định. Giữa cơ và các cơ quan nội tạng
(đặc biệt là khả năng hô hấp và tuần hoàn) hình thành một sự phối hợp tối ưu để đảm bảo các nhu cầu dinh dưỡng cho vận động và các động tác kỹ thuật được chuẩn xác.
Trong hoạt động thể thao, trạng thái ổn định thường được chia thành 2 loại là:
- Trạng thái ổn định thật: Khi vận động với cường độ trung bình, nhu cầu oxy ít hơn VO2max, do đó năng lượng để hoạt động được cung cấp chủ yếu bằng phản ứng hiếu khí, sau vận động nợ oxy và acid lactic tích tụ không đáng kể. Các chỉ số sinh lý như nhịp tim, huyết áp, nhịp hô hấp được duy trì ổn định ở mức không cao.
- Trạng thái ổn định giả: Khi vận động với cường độ lớn, nhu cầu oxy cao hơn VO2max, do đó trong cơ có phản ứng yếm khí gia tăng làm tích tụ dần acid lactic và nợ oxy tăng dần. Các chỉ số mạch, hô hấp, huyết áp được duy trì ổn định ở mức tối đa hoặc gần tối đa.
Trong thực tế tập luyện và thi đấu thể thao hầu như không xác định được trạng thái ổn định thật, vì VĐV luôn luôn cố gắng tăng công suất hoạt động để đạt được thành tích cao hơn, nghĩa là luôn hoạt động ở trên mức tối đa của cơ thể.
Tức là, đối với các loại vận động này là sau trạng thái bắt đầu vận động sẽ là trạng thái ổn định giả.
Hình 7.1. Nhu cầu oxy của cơ thể (đường chấm) và khả năng hấp thu oxy (vùng gạch chéo) trong ổn định thật (a) và ổn định giả (b)