Trạng thái hồi phục

Một phần của tài liệu Giáo trình sinh lý học thể dục thể thao (Trang 125 - 128)

CHƯƠNG 7. CÁC TRẠNG THÁI SINH LÝ CỦA CƠ THỂ XUẤT HIỆN

7.5. Các trạng thái sau vận động

7.5.2. Trạng thái hồi phục

Sau khi ngừng vận động, ở các cơ quan và các hệ cơ quan sẽ xảy ra những biến đổi để đưa cơ quan đó về trạng thái chức năng như trước lúc vận động. Các biến đổi như vậy gọi là quá trình hồi phục, còn trạng thái của cơ thể khi quá trình hồi phục còn đang diễn ra được gọi là trạng thái hồi phục. Sự hồi phục nói đúng hơn là giải quyết các nguyên nhân gây mệt mỏi, làm cho cơ thể trở về trạng thái ban đầu.

Tức là trong trạng thái hồi phục, cơ thể đào thải các sản phẩm trao đổi chất sinh ra trong vận động, phục hồi dự trữ các vật chất cấu trúc, năng lượng và các men đã tiêu hao trong thời gian hoạt động cơ bắp.

Hồi phục không chỉ là quá trình đưa cơ thể trở về trạng thái ban đầu, trong giai đoạn này còn xảy ra các biến đổi làm tăng khả năng chức phận của cơ thể.

Phân biệt 2 giai đoạn hồi phục: hồi phục sơ phát và hồi phục thứ phát.

- Giai đoạn hồi phục sơ phát: trong giai đoạn này diễn ra sự hồi phục ATP và CP, tái tạo glycogen từ acid lactic, đồng thời hồi phục nhịp tim, huyết áp và nhịp hô hấp. Tùy cường độ và thời gian vận động, quan trọng nhất là tùy trình độ tập luyện của VĐV mà giai đoạn hồi phục sơ phát hoàn thành trong vài phút hoặc đến khoảng 1 giờ.

- Giai đoạn hồi phục thứ phát: diễn ra sự hồi phục glycogen dự trữ trong gan và cơ cũng như quá trình hồi phục protid trong các loại tế bào, thường hoàn thành sau 2 – 3 ngày nghỉ ngơi hợp lý và dinh dưỡng đầy đủ. Sự phục hồi này nhằm tác động biến đổi về cấu trúc và chức năng của các cơ quan trong cơ thể thông qua tác

dụng thích nghi của hệ thần kinh thực vật. Sự phục hồi thứ phát thường vượt mức nghĩa là lượng glycogen dự trữ trong gan và cơ nhiều hơn trước lúc vận động, sợi cơ nở to vì chứa nhiều myosin và actin, nhờ đó làm tăng khả năng vận động của cơ thể.

Bảng 7.1. Thời gian hồi phục một số chỉ tiêu sinh hóa

Quá trình Thời gian hồi phục

Hồi phục dự trữ O2 trong cơ thể 10 – 15 giây Hồi phục dự trữ ATP và CP trong cơ 2 – 5 phút

Đào thải acid lactic 0,5 – 1,5 giờ

Tái tổng hợp dự trữ glycogen trong cơ 12 – 48 giờ Hồi phục dự trữ glycogen trong gan 12 – 48 giờ Tái tổng hợp protid men và protid cấu trúc 12 – 72 giờ

* Đặc điểm của quá trình hồi phục:

- Quá trình hồi phục của từng chức năng cũng như khả năng hoạt động thể lực nói chung xảy ra theo hình làn sóng và không đều.

- Các chức năng khác nhau, thậm chí các chỉ số sinh lý – sinh hóa khác nhau hồi phục với tốc độ khác nhau (hồi phục không đồng bộ). Ví dụ: sau khi chạy với cường độ tối đa, huyết áp trở về mức ban đầu sau 6 – 8 phút, trong khi nhịp tim ổn định sau khoảng 15 – 20 phút.

- Tốc độ hồi phục các chức năng tỷ lệ thuận với cường độ vận động. Cường độ vận động càng lớn, những biến đổi trong vận động xảy ra càng mạnh thì tốc độ hồi phục càng nhanh. Ví dụ: quá trình hồi phục sau khi vận động với cường độ tối đa chỉ sau vài phút, còn sau chạy Marathon có thể kéo dài vài ngày.

- Quá trình hồi phục các chức năng phụ thuộc vào trình độ tập luyện của mỗi cá nhân VĐV.

- Khả năng hoạt động thể lực và nhiều chức năng liên quan với khả năng hoạt động thể lực của cơ thể sau vận động với cường độ lớn không chỉ hồi phục đến mức trước vận động mà còn vượt quá mức đó, tạo ra hồi phục vượt mức.

- Tốc độ hồi phục của cơ thể còn phụ thuộc vào trạng thái tâm sinh lý của VĐV, điều kiện khí hậu, đặc điểm từng môn thể thao,…

Hình 7.2. Sơ đồ biến đổi chức năng trong và sau hoạt động thể lực

* Sự hồi phục vượt mức được ứng dụng trong tập luyện để chọn một mật độ vận động thích hợp:

- Nếu lần vận động sau đúng vào thời điểm năng lượng hồi phục cao nhất thì năng lực hoạt động sẽ tăng dần.

- Nếu mật độ vận động quá dày nghĩa là lần vận động sau đến quá sớm thì năng lực hoạt động giảm dần, đi đến tình trạng quá sức đối với VĐV.

- Nếu mật độ vận động quá thưa nghĩa là lần vận động sau đến quá muộn thì năng lực hoạt động không tăng tiến.

* Các phương pháp hồi phục thể thao: Trong thực tiễn hoạt động TDTT, hệ thống các biện pháp hồi phục được chia làm 3 nhóm chính có liên quan mật thiết với nhau là các biện pháp sư phạm, các biện pháp y – sinh học và các biện pháp tâm lý.

- Các biện pháp sư phạm: là những biện pháp đảm bảo hiệu quả hồi phục nhờ vào việc sử dụng các bài tập và xây dựng chế độ tập luyện, nghỉ ngơi hợp lý.

- Các biện pháp y – sinh học: có vị trí rất quan trọng trong việc đảm bảo sự hồi phục hoàn toàn khả năng hoạt động thể lực của VĐV, bao gồm chế độ dinh dưỡng hợp lý, chế độ sinh hoạt và lối sống lành mạnh, rèn luyện thân thể bằng các yếu tố môi trường tự nhiên, thủy liệu pháp (rửa, ngâm, tắm trong nước nóng hoặc lạnh, tắm hơi...), vật lý trị liệu (xoa bóp, bấm huyệt, châm cứu, kích thích điện, liệu pháp sử dụng ánh sáng, liệu pháp oxy...), dược phẩm – các vitamin.

- Các biện pháp tâm lý: được hình thành trên nguyên tắc thiết lập các mối quan hệ giữa HLV với VĐV, giữa các VĐV với nhau, bao gồm các biện pháp như tổ chức các hình thức nghỉ ngơi đa dạng, xây dựng bầu không khí tích cực trong tập thể, tổ chức các cuộc trao đổi, nói chuyện cá nhân hoặc theo nhóm, giáo dục tính tự

chủ,... Ngoài ra, cũng cần phải chú trọng đến giấc ngủ, ám thị, khí công hay tập luyện tự sinh,...

Một phần của tài liệu Giáo trình sinh lý học thể dục thể thao (Trang 125 - 128)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(151 trang)