Đặc điểm sinh lý của trạng thái sung sức thể thao

Một phần của tài liệu Giáo trình sinh lý học thể dục thể thao (Trang 112 - 151)

CHƯƠNG 6. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA CÁC TRÌNH ĐỘ TẬP LUYỆN

6.4. Đặc điểm sinh lý của trạng thái sung sức thể thao

Về mặt thể lực: Các năng lực chức năng của các hệ thống cơ quan trong cơ thể VĐV đạt đến trình độ tập luyện cao nhất, nhưng hoạt động chức năng lại hết sức tiết kiệm, ít phí sức, có khả năng thích ứng tốt với các hoạt động thi đấu có cường độ cao mà quá trình hồi phục lại nhanh. Có sự cân bằng về tâm lý nhưng lại năng động và mạnh mẽ khi phải đương đầu với những sức ép tâm lý. Ở trạng thái này, VĐV cảm thấy phấn khởi, háo hức, muốn tham gia tập luyện hoặc thi đấu, có ý chí ngoan cường, cố gắng đạt thành tích cao và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình.

Về mặt kỹ – chiến thuật: Do năng lực điều hòa các hệ thống thần kinh trung ương ở mức cao nhất, nên việc thực hiện các động tác rất chính xác, điêu luyện và có hiệu quả. Ở trạng thái này VĐV có khả năng thi đấu một cách trung thành với chiến thuật đã định trước, kiểm soát được tình thế và điều chỉnh được chiến thuật khi cần thiết.

Sự xuất hiện và phát triển của trạng thái sung sức thể thao là do yếu tố huấn luyện tạo nên. Trước hết VĐV phải được huấn luyện một cách có hệ thống và hợp lý để tăng cường các chức năng cơ thể, hoàn thiện các kỹ năng vận động tới mức cao và ổn định, đáp ứng được yêu cầu của lượng vận động tập luyện và thi đấu căng thẳng. Việc huấn luyện để tạo ra trạng thái sung sức thể thao được gọi là huấn luyện sung sức. Công cụ của việc huấn luyện sung sức là sự sắp xếp, cấu trúc của các thời kỳ và các giai đoạn huấn luyện dựa trên nhiệm vụ, mục đích của VĐV trong mùa thi

đấu, cụ thể là dựa vào tính chất quan trọng, mức ưu tiên đối với các trận thi đấu mà VĐV sẽ phải tham gia và phải đạt được thành tích.

CÂU HỎI THẢO LUẬN

1. Đặc điểm sinh lý của trình độ tập luyện trong vận động đến mức tối đa.

2. Trạng thái sung sức thể thao trong tập luyện TDTT.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Xuân Điền (1972), Sinh lý học thể dục thể thao, NXB TDTT, Hà Nội.

2. Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên (2003), Sinh lý học thể dục thể thao, NXB TDTT, Hà Nội.

3. Trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Tây (2004), Giáo trình Sinh lý học thể dục thể thao, NXB TDTT, Hà Nội.

4. Trường Đại học Sư phạm TDTT TP.HCM (2009), Giáo trình Sinh lý học thể dục thể thao, NXB TDTT, Hà Nội.

5. Коц Я.М., (Ред. 1998), Спортивная физиология, Москва, Россия.

6. Чанчаева Е. А. (2007), Физиология физического воспитания и спорта, Горно – Алтайск.

CHƯƠNG 7. TRẠNG THÁI SINH LÝ

CỦA CƠ THỂ XUẤT HIỆN TRONG HOẠT ĐỘNG THỂ DỤC THỂ THAO

MỤC TIÊU + Kiến thức:

- Hiểu, trình bày, phân tích được đặc điểm chung của các trạng thái cơ thể xuất hiện trong quá trình hoạt động TDTT như: trạng thái xuất hiện trước trong và sau vận động, đặc điểm sinh lý của trạng thái cực điểm, hô hấp lần hai.

- Phân tích và giải thích được vì sao VĐV thường xuất hiện trạng thái ổn định giả trong quá trình thi đấu, các nguyên nhân gây mệt mỏi sau vận động và đặc điểm sinh lý của trạng thái hồi phục.

- Hiểu được nguyên nhân và biểu hiện của trạng thái tập luyện quá sức, từ đó + Kỹ năng:

- Áp dụng được quy luật hồi phục vượt mức trong huấn luyện thể thao thành tích cao. Rút ra biện pháp phòng ngừa và xử trí cho bản thân để không rơi vào trạng thái tập luyện quá sức trong quá trình tập luyện TDTT.

- Xây dựng được kỹ năng thu thập, sử dụng, phân tích nguồn tài liệu cho công tác học tập và nghiên cứu khoa học.

- Thực hiện được các nội dung câu hỏi ôn tập.

- Có ý thức đọc và tham khảo tài liệu.

NỘI DUNG

7.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TRẠNG THÁI CƠ THỂ XUẤT HIỆN TRONG HOẠT ĐỘNG TDTT

Trong quá trình hoạt động TDTT, trước lúc vận động, trong thời gian vận động và sau khi vận động đều có những sự thay đổi sinh lý rất đặc trưng. Trạng thái chức năng của cơ thể có những biến đổi nhất định để đảm bảo cho cơ thể thực hiện các mục đích vận động và duy trì sự cân bằng của môi trường bên trong cơ thể.

Trước khi vận động, đặc biệt là trước các cuộc thi đấu thể thao, chức năng của rất nhiều cơ quan đã bắt đầu biến đổi. Trạng thái đó của cơ thể được gọi là trạng thái trước vận động.

Khi bắt đầu vận động, các chức năng sinh lý được hoạt hóa dần dần để nhanh chóng đáp ứng những nhu cầu đặc biệt của hoạt động cơ bắp. Trạng thái này được gọi là trạng thái bắt đầu vận động. Ngoài ra, để có thể huy động được tốt hơn sức lực của cơ thể trong vận động thì cần phải có khởi động nhằm rút ngắn quá trình thích nghi của cơ thể trong vận động.

Trong các hoạt động thể lực có cường độ cao và kéo dài, sau khi bắt đầu vận động vài phút thì cơ thể xuất hiện một trạng thái tạm thời đặc biệt đó là trạng thái cực điểm. Nếu tiếp tục vận động sẽ chuyển sang trạng thái dễ chịu hơn gọi là trạng thái hô hấp lần hai.

Trong các hoạt động kéo dài, sau khi trạng thái bắt đầu vận động kết thúc, giữa nhu cầu vận động và khả năng đáp ứng về chức năng của cơ thể sẽ đạt tới mức cân bằng nhất định, cơ thể chuyển sang trạng thái ổn định.

Khi hoạt động căng thẳng kéo dài, khả năng vận động của cơ thể sẽ bị giảm sút, xuất hiện trạng thái mệt mỏi.

Sau khi kết thúc vận động, các chức năng của cơ thể được ổn định dần về trạng thái ban đầu, dự trữ năng lượng được hồi phục lại, trạng thái sau vận động này được gọi là trạng thái hồi phục.

Mỗi một trạng thái của cơ thể nêu trên đều có những đặc điểm riêng trong chức năng của các cơ quan, hệ cơ quan và cơ thể nói chung. Toàn bộ các trạng thái sinh lý của cơ thể xuất hiện trong hoạt động TDTT là một quá trình thống nhất, liên tục. Việc phân chia chúng thành các trạng thái riêng lẻ hoàn toàn chỉ mang tính chất tương đối. Các trạng thái cũng như tính chất và độ dài của chúng phụ thuộc vào cường độ, khối lượng của hoạt động thể lực, các điều kiện để thực hiện hoạt động và trình độ tập luyện của VĐV.

7.2. TRẠNG THÁI TRƯỚC VẬN ĐỘNG

Trạng thái trước vận động là trạng thái đặc biệt của cơ thể xuất hiện trước một hoạt động thể thao (thi đấu, tập luyện).

Những biến đổi xảy ra trong cơ thể trước khi vận động rất đa dạng và xuất hiện ở hầu hết các chức năng của cơ thể như tăng cường hưng phấn của các trung

tâm thần kinh, tăng nhịp tim, tăng tần số và độ sâu hô hấp, tăng cường trao đổi chất, thân nhiệt tăng,…

Các biến đổi sinh lý này có thể xảy ra trước khi bắt đầu vận động vài giờ, vài ngày thậm chí nhiều ngày. Mức độ và tính chất của những biến đổi chức năng trong trạng thái trước vận động phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

- Trình độ tập luyện của VĐV: ở các VĐV có trình độ cao, các biến đổi trước vận động xảy ra sát ngày thi đấu hơn và nhiều khi mạnh hơn so với các VĐV có trình độ thấp.

- Loại vận động sắp tới: chuẩn bị chạy cự ly ngắn thì mạch tăng cao hơn chuẩn bị chạy cự ly dài.

- Tầm mức quan trọng của buổi thi đấu: chuẩn bị thi đấu trận chung kết thì sự căng thẳng tâm lý làm biến đổi cơ thể nhiều hơn chuẩn bị cho một trận thi đấu vòng loại.

- Loại hình thần kinh: những VĐV có loại hình thần kinh linh hoạt – thăng bằng thì bao giờ cũng có những biến đổi phù hợp và tạo điều kiện cho VĐV bước vào tập luyện và thi đấu tốt hơn.

- Thời gian: càng gần sát ngày thi đấu thì diễn biến sinh lý trong cơ thể VĐV càng tăng rõ rệt.

Ngoài ra còn phụ thuộc vào tình trạng cơ thể của mỗi VĐV, yếu tố lời nói, điều kiện tập luyện và thi đấu, thái độ của VĐV,…

Sự biến đổi chức năng trước vận động xảy ra theo cơ chế phản xạ có điều kiện.

Kích thích có điều kiện ở đây là ý nghĩ về sự vận động sắp tới, về hình ảnh sân vận động hoặc dụng cụ thi đấu,…

Những biến đổi trước vận động làm cho cơ thể hoạt động ở mức gần với vận động hơn và giúp cho việc thực hiện hoạt động được dễ dàng, sự thích nghi với vận động xảy ra nhanh hơn. Trạng thái trước vận động có thể ảnh hưởng khác nhau đến thành tích thể thao.

Trạng thái trước vận động có thể phân chia thành 3 loại:

a. Trạng thái sẵn sàng

- Trong trạng thái này, hưng phấn của hệ thần kinh tăng lên vừa phải.

- Các biến đổi chức năng vận động và dinh dưỡng tương ứng với đặc trưng vận động sắp tới.

- Cảm xúc của VĐV là ham muốn thi đấu, tập trung chú ý vào thi đấu, quá trình tri giác và tư duy được nâng lên.

- Trạng thái sẵn sàng là trạng thái trước vận động hợp lý, đảm bảo cho cơ thể hoạt động tốt nhất trong thi đấu.

b. Trạng thái bồn chồn (hay còn được gọi trạng thái sốt trước vận động) - Trong trạng thái này, hưng phấn tăng lên quá mức.

- Những biến đổi chức năng xảy ra quá mạnh, nhiệt độ cơ thể tăng cao. Những biến đổi đó làm hao phí năng lượng dự trữ của cơ thể và làm mất sự cân bằng của các quá trình thần kinh. VĐV giảm năng lực hoạt động, dễ phạm sai lầm về kỹ thuật và chiến thuật trong thi đấu.

- VĐV dễ bị kích động, sự tập trung chú ý và trí nhớ giảm sút.

- Nói chung, trạng thái bồn chồn phần nhiều có ảnh hưởng xấu đến thành tích thể thao. Tuy nhiên, đối với những VĐV có loại hình thần kinh mạnh, thì sự hưng phấn quá mức này không làm giảm mà ngược lại còn làm tăng thành tích thi đấu thể thao cá nhân.

c. Trạng thái thờ ơ

- Là trạng thái trước thi đấu có quá trình ức chế chiếm ưu thế trong hệ thần kinh. Sự ức chế này thường xảy ra sau khi hưng phấn quá mạnh trên giới hạn.

- Biến đổi chức năng vận động và dinh dưỡng đều yếu, có sự rối loạn phối hợp giữa các chức năng làm giảm khả năng hoạt động và giảm tính linh hoạt trong thi đấu.

- VĐV có trạng thái cảm xúc trầm buồn, sợ thi đấu, sợ giao tiếp, năng lực tri giác và chú ý đều giảm sút, chán nản, uể oải.

- Trạng thái thờ ơ làm giảm thành tích thể thao, nhất là trong những môn thể thao có thời gian thi đấu ngắn.

- Do ảnh hưởng của chúng đối với thành tích thể thao nên hiện nay trạng thái trước vận động của VĐV được kiểm soát rất chặt chẽ và là một nội dung quan trọng của công tác huấn luyện.

- Có thể điều chỉnh trạng thái trước vận động bằng nhiều biện pháp khác nhau, như:

+ Dùng lời nói để động viên, phân tích những nguyên nhân có thể gây ảnh hưởng không tốt trước khi thi đấu. Cần giải thích cho VĐV biết ai cũng có trạng thái trước thi đấu và nó rất cần thiết để chuẩn bị cho cơ thể bước vào vận động. Khi hiểu được họ sẽ chủ động và không căng thẳng trước khi thi đấu.

+ Phát triển tính cân bằng thần kinh, khắc phục sự căng thẳng quá mức, lo lắng, băn khoăn của VĐV bằng các hoạt động như vui chơi giải trí, văn nghệ và các hoạt động lành mạnh khác thì trạng thái trước vận động cũng sẽ tốt hơn.

+ Làm quen trạng thái thi đấu với nhiều đối thủ và trong những điều kiện sân bãi, dụng cụ khác nhau.

+ Dùng vật lý trị liệu: như có thể dùng xoa bóp để điều hòa trạng thái trước vận động (dùng xoa bóp mạnh để gây hưng phấn thần kinh hoặc xoa bóp nhẹ để giảm hưng phấn).

+ Dược phẩm – các vitamin.

+ Sắp xếp lượng vận động hợp lý.

+ Trình độ huấn luyện có ý nghĩa quan trọng đối với trạng thái sinh lý trước khi thi đấu, cần phải tập luyện để nâng cao trình độ kỹ – chiến thuật, nâng cao tính linh hoạt và cân bằng cho hệ thần kinh – khi huấn luyện phải chú ý huấn luyện toàn diện có hệ thống.

+ Chế độ sinh hoạt (ăn, ngủ, nghỉ) hợp lý: Trong những ngày sắp thi đấu cần phải giữ vững chế độ sinh hoạt, tránh đảo lộn vì như vậy sẽ làm rối loạn những định hình đã được hình thành trong quá trình tập luyện của VĐV và gây ra hưng phấn quá mức.

+ Khởi động có thể điều hòa được trạng thái trước vận động. Động tác khởi động càng giống thi đấu thì càng làm tăng cường quá trình hưng phấn. Ngược lại, những động tác kéo dài và không giống hoạt động sắp tới có thể làm giảm sút quá trình hưng phấn.

7.3. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA KHỞI ĐỘNG

Khởi động là thực hiện một tổ hợp các động tác chuẩn bị trước một buổi tập hoặc thi đấu thể thao để rút ngắn quá trình thích nghi của cơ thể đối với vận động,

chuyển các chức năng của cơ thể từ trạng thái tĩnh sang trạng thái hoạt động và ngăn ngừa chấn thương.

Khởi động thường gồm khởi động chung và khởi động chuyên môn:

Khởi động chung: thường dùng các bài tập phát triển chung đa dạng, có tác động lên toàn bộ cơ thể, đặc biệt là hệ tim mạch và hô hấp, như các động tác khởi động khớp, chạy chậm, nhảy, với mục đích làm tăng nhiệt độ cơ thể, tăng cường hưng phấn cho hệ thần kinh, tăng chức năng của hệ vận chuyển oxy, làm tăng trao đổi chất, tăng sự linh hoạt của các cơ và khớp.

Khởi động chuyên môn: thường được tiến hành sau phần khởi động chung nhằm chuẩn bị cho cơ thể thực hiện một hoạt động chuyên môn cụ thể. Bao gồm các động tác tương ứng về đặc điểm cơ cấu vận động với bài tập sắp tới để củng cố định hình động lực trên vỏ não, tạo sự co dãn phù hợp của các gân và cơ. Trong phần khởi động này thường có các động tác phối hợp kỹ thuật phức tạp và các động tác chuyên môn với dụng cụ chuyên môn.

Về nguyên tắc thì khởi động phải vừa đủ và không được gây mệt mỏi và hưng phấn quá mức. Trong thực hành thì đó là khi VĐV bắt đầu bài tiết mồ hôi và khoảng thời gian đó thường là khoảng 30 phút sau khi bắt đầu vận động. Sau khi khởi động, nên nghỉ ngơi khoảng 3 – 10 phút để giải quyết nợ oxy, giảm bớt nhịp tim và nhịp hô hấp.

Khởi động có tác dụng tốt nhất đối với các môn sức mạnh – tốc độ với thời gian thực hiện tương đối ngắn và các môn có sự phối hợp vận động phức tạp. Còn với các môn thời gian dài thì khởi động ít có hiệu quả, nhất là khi nhiệt độ môi trường bên ngoài quá cao (từ 36оС trở lên) thì khởi động có thể ảnh hưởng xấu tới thành tích khi thi đấu trong các cự ly dài.

7.4. CÁC TRẠNG THÁI TRONG QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG 7.4.1. Trạng thái bắt đầu vận động

Về bản chất, trạng thái bắt đầu vận động là giai đoạn thích nghi của cơ thể với những yêu cầu cao của vận động.

Khi mới bắt đầu vận động, từng chức năng cũng như toàn bộ cơ thể có những biến đổi đáng kể nhằm đảm bảo cho việc thực hiện hoạt động cơ bắp. Toàn bộ những biến đổi đó đều nhằm một mục đích là tìm ra một mức hoạt động phối hợp mới, phù hợp với yêu cầu của vận động.

Khi mới bắt đầu vận động, nếu không có khởi động thì khả năng vận động chưa đến mức cao nhất, vì hệ thần kinh chưa ở mức hưng phấn tối đa và các chức năng thực vật chưa phản ứng kịp. Ngay cả khi vận động với thời gian rất ngắn như chạy 100 m thì đến giây thứ 5 mới có tốc độ cao nhất. Đối với các loại vận động có thời gian kéo dài thì phải sau 5 – 10 phút mới ở mức vận động cao nhất, vì sau khi vận động được 1 phút thì nhịp tim mới tăng tối đa, sau 3 – 5 phút lưu lượng tim cao nhất, điều hòa hô hấp cũng phải sau vài phút mới đạt mức cao.

Sự biến đổi các chức năng trong trạng thái bắt đầu vận động diễn ra theo một số quy luật như sau:

* Sự tăng cường các chức năng xảy ra không đồng đều:

- Các chức năng vận động của cơ thể biến đổi nhanh hơn so với các chức năng dinh dưỡng.

- Số nhịp tim tăng nhanh hơn lực co bóp của tim từ đó dẫn đến lưu lượng tim tăng chậm.

- Tần số hô hấp tăng nhanh hơn khả năng hấp thụ oxy nên trong giai đoạn bắt đầu vận động chỉ sử dụng năng lượng do phân giải ATP, CP và phân giải yếm khí glucid (có tạo ra acid lactic).

* Cường độ vận động càng lớn thì sự tăng cường chức năng ban đầu xảy ra càng nhanh, vì vậy thời gian bắt đầu càng ngắn:

- Khi chạy Marathon thì thời gian để đạt được mức hấp thụ oxy cần thiết là sau khoảng 10 phút.

- Khi chạy 1500 m thì thời gian đó là sau chỉ khoảng 1,5 phút.

- Trình độ tập luyện càng cao có kết hợp với khởi động thì thời gian bắt đầu rất ngắn, mau đạt đến khả năng vận động tối đa.

7.4.2. Trạng thái cực điểm và hô hấp lần hai

Trong những hoạt động với cường độ cao hoặc là trong các hoạt động thể lực kéo dài, sau khi bắt đầu vận động vài phút thì trong cơ thể VĐV xuất hiện một trạng thái tạm thời đặc biệt gọi là cực điểm. Ở trạng thái này, khả năng hoạt động của cơ thể bị giảm sút tạm thời, có thể khắc phục được trong quá trình hoạt động.

* Các biểu hiện của trạng thái cực điểm:

- Khó thở, tức ngực, chóng mặt, đau cơ, không muốn vận động tiếp.

Một phần của tài liệu Giáo trình sinh lý học thể dục thể thao (Trang 112 - 151)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(151 trang)