Đặc điểm sinh lý của cơ thể thiếu nhi và thanh niên

Một phần của tài liệu Giáo trình sinh lý học thể dục thể thao (Trang 137 - 141)

CHƯƠNG 8. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ LỨA TUỔI VÀ PHỤ NỮ TRONG TẬP LUYỆN THỂ DỤC THỂ THAO

8.2. Đặc điểm sinh lý của cơ thể thiếu nhi và thanh niên

Về hệ thần kinh:

- Quá trình hưng phấn vẫn còn chiếm ưu thế, nhờ đó tính linh hoạt gia tăng nên khả năng phối hợp động tác dần được cải thiện. Các dạng ức chế thần kinh được thể hiện rõ nét như ức chế phân biệt với các tác nhân kích thích. Các phản xạ có điều kiện được xây dựng tương đối bền vững.

- Hệ thống tín hiệu thứ hai (tiếng nói, chữ viết) phát triển nhờ học đọc và học viết. Từ đó làm tăng khả năng phân tích và tổng hợp có lợi cho sự tiếp thu về giáo dục thể chất.

Về các cơ quan dinh dưỡng:

- Cơ tim phát triển tương đối yếu nên lực co bóp cũng tương đối yếu.

- Nhịp tim vẫn còn cao khoảng 90 lần/phút, huyết áp tăng dần lên 105/70 mmHg. Sự điều hòa hoạt động tim mạch tương đối phát triển hơn nhưng cũng chưa được hoàn thiện. Nhịp hoạt động của tim thích ứng hơn với những điều kiện hoạt động khác nhau của cơ thể.

- Phổi phát triển, diện tích các phế nang tăng lên (ở trẻ em 12 tuổi, diện tích này chỉ mới bằng một nửa so với người trưởng thành). Nhịp hô hấp cao, khoảng 20 nhịp/phút, thở nông.

- Sự trao đổi chất nhanh, năng lượng tiêu hao nhiều vì cần cho cả hoạt động và tổng hợp chất sống để tăng trưởng.

Về hệ vận động và sự phát triển thể lực:

- Lứa tuổi này sự phát triển chiều cao chậm hơn lứa tuổi chưa đi học. Hiện tượng cốt hóa ở xương chưa kết thúc, xương còn mềm, dễ uốn cong. Cho nên khi tập luyện cần tránh các động tác mạnh để khỏi gây cong xương, cong vẹo cột sống, lệch xương chậu hoặc chậm lớn.

- Các cơ còn kém phát triển. Tính đàn hồi của cơ và khớp khá tốt nên có thể thực hiện các động tác với biên độ rộng. Sức mạnh của cơ tăng lên một ít. Động tác được thực hiện tương đối chính xác hơn, nhưng sự phối hợp động tác và độ thăng bằng trong khi làm động tác cũng chưa cao.

- Do đó nội dung tập luyện ở lứa tuổi này chủ yếu vẫn còn là các trò chơi vận động có tác dụng hoàn thiện khả năng phối hợp động tác và phát triển các tố chất, nhất là tố chất nhanh. Không nên dùng những bài tập tĩnh và kéo dài vì dễ gây mệt mỏi cũng như những bài tập có những động tác phối hợp quá phức tạp hoặc đòi hỏi độ chính xác cao.

8.2.2. Lứa tuổi trung học cơ sở (từ 12 – 15 tuổi) Về hệ thần kinh:

- Chức năng của hệ thần kinh chịu ảnh hưởng của hoạt động nội tiết trong tuổi dậy thì: các hormon sinh dục, hormon của tuyến giáp và của tuyến yên tăng lên làm cho khả năng hưng phấn của hệ thần kinh trung ương tăng và còn làm rối loạn thăng bằng giữa các quá trình hưng phấn và ức chế. Quá trình ức chế tăng lên nhưng hưng phấn vẫn chiếm ưu thế.

- Hệ thống tín hiệu thứ hai phát triển hơn nữa.

- Khả năng hoạt động của các tế bào thần kinh giảm nên chóng bị mệt. Từ 15 tuổi trở lên, ức chế có điều kiện phát triển, mối quan hệ giữa hưng phấn và ức chế được hoàn thiện hơn. Động tác tiết kiệm hơn và phối hợp tốt hơn.

Về các cơ quan dinh dưỡng:

- Tim phát triển rất mạnh (đạt khoảng 200 g), độ dày thành tâm thất trái tăng đáng kể, đường kính động mạch chủ tăng.

- Số nhịp tim chậm dần, khoảng 80 lần/phút. Tim rất dễ hưng phấn do ảnh hưởng của thần kinh giao cảm. Vì thế người ta hay gặp chứng loạn nhịp tim, tim đập mạnh ở những trẻ em trong tuổi dậy thì.

- Huyết áp có thể tạm thời tăng đến 117/73 mmHg và cũng có trường hợp tăng tới 130/80 hoặc cao hơn nữa do hoạt động mạnh của tuyến nội tiết.

- Tần số hô hấp thấp hơn (19 – 20 lần/phút). Dung tích sống tăng lên.

Về hệ vận động và sự phát triển thể lực:

- Chiều cao tăng mạnh, xương phát triển theo chiều dài và tiếp tục quá trình cốt hóa. Khung chậu, lồng ngực, cột sống phát triển, các cơ phát triển nhanh làm tăng các tố chất thể lực nhưng thời gian tập luyện không nên quá dài vì dự trữ glycogen còn kém. Đồng thời sự phát triển mạnh của hệ cơ xương làm cho sự phối hợp các động tác phức tạp hơi lúng túng và vụng về, sau đó cải thiện dần.

- Có thể tập chạy cự ly ngắn và trung bình, các môn bóng có giới hạn về thời gian. Cần phải lưu ý là, sau thời gian vận động ngắn thì hồi phục nhanh, còn sau thời gian vận động dài thì hồi phục chậm hơn người trưởng thành do khả năng tạo hồng cầu kém.

- Về tố chất nhanh thì đến khoảng 13 tuổi nếu có yếu tố di truyền tốt và có tập luyện thì phản ứng nhanh như người lớn.

- Tính chuẩn xác về thời gian tức khả năng phân biệt nhịp điệu động tác đến khoảng 14 tuổi thì đạt mức độ tốt.

8.2.3. Lứa tuổi trung học phổ thông (từ 15 – 18 tuổi) Về hệ thần kinh:

- Kích thước của các trung khu thần kinh đã hoàn chỉnh, có tính linh hoạt cao, nhờ đó có khả năng tư duy và trừu tượng tốt.

- Hệ thống tín hiệu thứ hai phát triển mạnh.

- Các loại hình thần kinh được biểu hiện rõ nét.

Các cơ quan dinh dưỡng:

- Kích thước tim phát triển đến mức độ tối đa là khoảng 250 g. Nhịp tim, huyết áp giảm thấp xuống và giống như của người trưởng thành.

- Phổi cũng phát triển mạnh, tần số hô hấp giảm chỉ còn 16 – 20 lần/phút. Hô hấp được sâu hơn, dung tích sống tăng.

Về hệ vận động và sự phát triển thể lực:

- Hệ thống cơ – xương phát triển đầy đủ, khối lượng cơ cao hơn 40% thể trọng, do đó có thể tham gia tập luyện tất cả các môn thể thao và tập luyện tất cả các tố chất nhưng sức bền và mạnh chỉ đạt đỉnh cao vào khoảng 24 tuổi.

Tóm lại, dưới 16 tuổi có thể tập luyện tố chất nhanh, khả năng phối hợp động tác, tố chất bền với thời gian không quá dài, từ 16 tuổi mới tập luyện tố chất mạnh với trọng lượng phụ.

Hình 8.1. Các thời kỳ mẫn cảm của sự phát triển các tố chất thể lực

Một phần của tài liệu Giáo trình sinh lý học thể dục thể thao (Trang 137 - 141)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(151 trang)