CHƯƠNG 8. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ LỨA TUỔI VÀ PHỤ NỮ TRONG TẬP LUYỆN THỂ DỤC THỂ THAO
8.7. Một số đặc điểm về tập luyện TDTT của phụ nữ
Trong TDTT hiện đại, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia tập luyện với các mục đích khác nhau, từ thể dục thẩm mỹ, thể dục chữa bệnh đến thi đấu thể thao thành tích cao ở những môn đòi hỏi phải có sự gắng sức cực lớn như chạy Marathon, cử tạ hoặc phức tạp như bóng đá, cầu mây,…
Các phản ứng sinh lý đối với vận động cũng như những cơ chế thích nghi của cơ thể đối với vận động của phụ nữ thường khắc nghiệt hơn so với nam giới. Vì vậy việc tập luyện TDTT của phụ nữ cần phải được tiến hành và tổ chức phù hợp với những đặc điểm riêng của họ, phải được quan tâm theo dõi về y học một cách chi tiết, thường xuyên hơn.
Về sức mạnh và sức bền thì phụ nữ không bằng nam giới do đó thành tích thể thao kém hơn. Nhưng về khả năng phối hợp động tác thì khá hơn nam nên thành công ở các môn thể dục nghệ thuật và các bài tập trên cầu thăng bằng. Nếu tập luyện TDTT đúng phương pháp và có hệ thống thì các tố chất sức mạnh, sức bền, sự khéo léo tăng lên đồng thời làm tăng cường sức khỏe của phụ nữ.
8.7.1. Đặc điểm sức mạnh của phụ nữ
Ở các em gái, sức mạnh cơ sau tuổi dậy thì yếu hơn so với các em nam. Sự khác biệt về lực cơ càng gần tuổi trưởng thành (20 – 30 tuổi) thể hiện càng rõ. Tỷ lệ các sợi cơ chậm và sợi cơ nhanh trong cơ của nam và nữ không có sự khác biệt rõ rệt. Ở các VĐV cùng một môn thể thao, tỷ lệ các sợi cơ cũng tương tự nhau ở nam và nữ. Tuy nhiên tiết diện ngang của các loại sợi cơ của nữ trung bình đều nhỏ hơn của nam giới.
Khả năng phát triển lực cơ trong quá trình tập luyện của phụ nữ nói chung thấp hơn của nam giới. Sức mạnh của nam giới lứa tuổi 20 – 26 có thể tăng được 80% so với mức ban đầu dưới ảnh hưởng của các bài tập chuyên môn, trong khi sức mạnh của phụ nữ cùng độ tuổi chỉ tăng được khoảng 40 – 50%.
Tập luyện sức mạnh ở phụ nữ làm giảm tổ chức mỡ nhiều hơn và ít ảnh hưởng đến trọng lượng cơ thể hơn so với nam giới. Nhiều tác giả giải thích hiện tượng trên bằng nồng độ các hormon sinh dục nam (androgen). Hàm lượng các hormon sinh dục nam trong máu của phụ nữ ít hơn của nam giới gần 10 lần. Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của hormon sinh dục nam đối với sự phì đại cơ và sự phát triển sức mạnh ở người.
8.7.2. Đặc điểm sức bền của phụ nữ
Thể tích và trọng lượng tim của phụ nữ tương đối nhỏ do đó thể tích tâm thu thấp. Thể tích phút của tim được đền bù bằng số nhịp tim cao (cả lúc nghỉ và khi vận động), cơ chế này không kinh tế và biểu thị khả năng chức phận của hệ tim mạch tương đối yếu ở phụ nữ.
Huyết áp thường thấp (khoảng 100/60 mmHg).
Lồng ngực của phụ nữ nhỏ hơn, các cơ hô hấp yếu hơn nên dung tích sống nhỏ hơn nam giới từ 0,7 – 1 lít và thông khí phổi tối đa thấp hơn khoảng 30%. Phụ nữ thường tăng hoạt động hô hấp bằng cách tăng tần số hô hấp nhưng ít tăng độ sâu hô hấp. Nhiều công trình nghiên cứu còn cho thấy khả năng thẩm thấu của phổi đối với oxy ở phụ nữ cũng thấp hơn ở nam giới.
So với nam giới, phụ nữ có thể tích máu lưu thông ít hơn. Số lượng hồng cầu ở nữ cũng ít hơn, khoảng 3,8 triệu/mm3 máu so với nam khoảng 4,2 triệu/mm3 máu do đó hàm lượng hemoglobin thấp hơn, chỉ có 14 g% so với nam giới là 16 g% (16 g trong 100 ml máu).
Bảng 9.1. Các chỉ số huyết học trong yên tĩnh và trong hoạt động tối đa của nam và nữ (Kox et al.)
CHỈ SỐ NỮ NAM
Thể tích máu tuần hoàn (lít):
Yên tĩnh Vận động
4,3 4,0
5,7 5,2 Số lượng hồng cầu (triệu/ml):
Yên tĩnh Vận động
4,6 5,0
5,4 5,9 Số lượng bạch cầu (nghìn/ml):
Yên tĩnh Vận động
7,0 15,0
7,0 15,0
Hàm lượng hemoglobin (g%):
Yên tĩnh Vận động
14,0 15,4
16,0 17,6 Hàm lượng O2 trong máu động mạch (ml/100ml):
Yên tĩnh Vận động
16,8 17,7
19,0 20,0 Hàm lượng O2 trong máu tĩnh mạch (ml/100ml):
Yên tĩnh Vận động
9,0 3,0
9,0 3,0 Chênh lệch O2 động – tĩnh mạch (ml/100ml):
Yên tĩnh Vận động
4,8 11,5
5,0 14,0
Do hệ thống các cơ quan vận chuyển oxy của cơ thể phụ nữ hoạt động kém hơn so với nam giới như nêu ở trên nên khả năng hấp thụ oxy tối đa (VO2max) của phụ nữ thấp hơn hẳn nam giới và khả năng tập luyện để phát triển VO2max của phụ nữ cũng thấp hơn nam giới, vì vậy mà thành tích trong các hoạt động đòi hỏi sức bền cao của phụ nữ thường kém hơn so với nam giới (cự ly và và thời gian thi đấu càng dài thì sự thua kém đó thể hiện càng rõ).
8.7.3. Khả năng vận động của phụ nữ trong chu kỳ kinh nguyệt
Một đặc điểm quan trọng của cơ thể phụ nữ là hiện tượng kinh nguyệt, đây là một quá trình sinh lý thể hiện hoạt động về chức năng của bộ máy sinh dục. Quá trình này lặp lại theo chu kỳ 28 – 32 ngày bắt đầu từ khi cơ thể phụ nữ trưởng thành về mặt sinh dục vào khoảng 12 – 14 tuổi và kết thúc vào thời kỳ mãn kinh (45 – 50 tuổi).
Ở đa số phụ nữ, khả năng hoạt động thể lực chung giảm xuống vào ngày trứng rụng và trong những ngày hành kinh do hoạt động mạnh của tuyến nội tiết ảnh hưởng đến hệ thần kinh. Chức năng của các hệ cơ quan trong cơ thể thay đổi đáng kể: tính hưng phấn của trung ương thần kinh tăng, nhịp tim nhanh, huyết áp hơi tăng.
Ở một số phụ nữ còn có thể xuất hiện cảm giác khó chịu, đau đớn, buồn nôn.
Tuy nhiên ở một số phụ nữ, khả năng vận động không những không giảm mà còn tăng lên trong những ngày có kinh nguyệt. Một điểm cần chú ý là những ngày trước và sau khi có kinh nguyệt, quá trình hồi phục sau vận động thường kéo dài. Các bài tập nặng có gắng sức tĩnh lực lớn có thể làm tăng lượng máu và kéo dài thời gian
hành kinh. Nên tránh các động tác nhảy, va chạm bụng vì có thể gây lệch tử cung và chảy nhiều máu.
Tập thể dục quá sức sẽ khiến việc sản sinh hormon progesteron bị giảm làm cho giai đoạn hoàng thể của các nữ VĐV ngắn hơn thường nhật, khiến cho niêm mạc tử cung mỏng, lượng máu ra hàng tháng ít và không cung cấp đủ cho thành tử cung phát triển để cho phép trứng được thụ tinh. Các nghiên cứu chỉ ra rằng luyện tập có thể làm cho 10% - 20% nữ VĐV bị vô kinh thứ phát (trong khi đó người thường là 5%), thậm chí 50% VĐV chạy cự ly dài bị vấn đề này, điều này có liên quan tới sự suy giảm luteinizing hormon (LH) và mức độ thấp của hormon estrogen và progesteron. Lượng vận động lớn, kéo dài có thể làm trì hoãn sự trưởng thành về sinh dục ở nữ thiếu niên và làm rối loạn kinh nguyệt ở nữ thanh niên. Tuy nhiên cần phải coi chu kỳ kinh nguyệt là một hiện tượng sinh lý bình thường, nữ VĐV hoàn toàn có thể tham gia tập luyện và thi đấu thể thao nếu được theo dõi chặt chẽ và có những biện pháp đối xử cá biệt hợp lý.
Hình 8.2. Diễn biến chu kỳ kinh nguyệt
Tập luyện TDTT ảnh hưởng tốt đến toàn bộ trạng thái chức năng của cơ thể người phụ nữ, trong đó cần chú ý tập luyện làm phát triển các cơ ở đáy chậu và các cơ ở bụng, điều này giúp cho phụ nữ sinh đẻ thuận lợi hơn.