của Việt Nam
Sau khi Tổng Thanh tra Chính phủ tham gia tham dự Hội nghị cấp cao và ký Công ước tại Mêhicô tháng
12-2003, ngày 6-1-2004, Thủ tướng Chính phủ giao Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với các bộ,
ngành hữu quan tiến hành nghiên cứu sâu nội dung
96
của Công ước, rà soát hệ thống pháp luật, đánh giá thuận lợi, khó khăn của Việt Nam để dé xuất việc phê
chuẩn và thực hiện Công ước.
Để thực hiện nhiệm vụ nói trên, ngày 13-4-2004,
Tổng Thanh tra Chính phủ đã ra Quyết định thành lập Tổ tư vấn của Tổng Thanh tra để nghiên cứu sâu nội
dung Công ước, phân tích các quyền và nghĩa vụ của các
quốc sgia thành viên; rà soát toàn diện hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam, đối chiếu với nội dung
Công ước, xác định những nội dung phù hợp, chưa phù
hợp, hoặc cần phải sửa đổi, bổ sung; đánh giá thuận lợi,
khó khăn của Việt Nam trong việc thực thi Công ước; đề xuất việc phê chuẩn và thực thi Công ước (Tổ Tư vấn gồm cán bộ của 10 cơ quan, tổ chức ở Trung ương).
Căn cứ vào các thuật ngữ trong từng quy định của Công ước và căn cứ vào bản hướng dẫn lập pháp thực
thi Công ước của Cơ quan Phòng, chống ma túy va tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC), các chuyên gia ngôn ngữ và pháp lý đã kết luận: Công ước có 237 quy
định về nghĩa vụ của quốc gia thành viên, bao gồm
135 quy định mang tính bất buộc (trong đó có quy
định về dẫn độ tội phạm, hợp tác quốc tế trong việc thu hồi tài sản, công khai, minh bạch tài chính
công...); 38 quy định mang tính khuyến nghị và 64 quy định mang tính tùy nghi (trong đó có quy định về việc
áp dụng kỹ thuật điều tra đặc biệt, trách nhiệm hình sự của pháp nhân, tiến hành điều tra chung, hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp, hối lộ trong khu 97
vực tư, thành lập cơ quan tình báo tài chính...). Qua nghiên cứu, rà soát, đánh giá cho thấy, mục tiêu và
nội dung của Công ước cơ bản phù hợp với đường lối, quan điểm của Đảng và các nguyên tắc của Hiến pháp, pháp luật Việt Nam. Hệ thống pháp luật của Việt Nam phù hợp với tinh thần, lời văn và đáp ứng về cơ bản 135/135 quy định mang tính bất buộc, 61/64 quy
định mang tính tùy nghĩ và 31/38 quy định mang tính
khuyến nghị của Công ước.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, rà soát, đánh giá,
Tổ Tư vấn để xuất với Tổng Thanh tra và Tổng Thanh
tra đã đề xuất với Chính phủ việc phê chuẩn và thực hiện Công ước. Ngày 1-11-2006, Thủ tướng Chính phủ giao cho Thanh tra Chính phủ chuẩn bị các thủ tục
phê chuẩn. Sau quá trình chủ trì phối hợp với các cơ
quan, bộ, ngành có liên quan tiến hành các thủ tục và
xây dựng hồ sơ phê chuẩn, ngày 25-11-2008, Thanh
tra Chính phủ đã trình Chính phủ hồ sơ đề nghị phê chuẩn Công ước. Ngày 2-12-2008, tại phiên họp
thường kỳ, Chính phủ đã thống nhất để nghị phê
chuẩn Công ước, đồng thời giao Tổng Thanh tra thừa
ủy quyền Thủ tướng Chính phủ báo cáo, xin ý kiến Bộ Chính trị. Ngày 20-4-2009, Bộ Chính trị có kết luận về chủ trương phê chuẩn và việc tổ chức thực hiện Công ước sau khi phê chuẩn. Theo quy định của Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005,
Chủ tịch nước đã xem xét, ký Quyết định số 950/2009/QĐ-CTN, ngày 30-6-2009 về việc phê chuẩn
98
Công ước. Ngày 19-8-2009, Bộ Ngoại giao gửi Công
hàm về việc phê chuẩn Công ước đến Tổng thư ký Liên hợp quốc. Ngày 28-9-2009, Tổng thư ký Liên hợp quốc gửi văn bản thông báo Công ước bắt đầu có hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày 18-9-2009 (sau 30 ngày kể từ ngày nộp văn kiện phê chuẩn). Việt Nam là quốc gia phê chuẩn thứ 137 trong số 141 nước đã phê chuẩn
hoặc gia nhập Công ước.
Trong văn kiện phê chuẩn gửi Liên hợp quốc, Việt Nam bảo lưu khoản 2, Điều 66 của Công ước về thủ tục giải quyết tranh chấp, tức là không bị ràng buộc về việc giải quyết tranh chấp giữa hai hay nhiều quốc gia thành viên thông qua trọng tài phân xử hoặc đưa vụ tranh chấp ra Toà án công lý quốc tế. Việt Nam cũng tuyên bố không bị ràng buộc bởi các quy định về hình sự hoá hành vi làm giàu bất hợp pháp (Điều 20, Công
ước) và quy định về trách nhiệm hình sự của pháp
nhân (Điều 26); không áp dụng trực tiếp các quy định của Công ước (việc thực hiện các quy định của Công ước
sẽ theo nguyên tắc Hiến pháp và pháp luật thực định
của Việt Nam, trên cơ sở các thoả thuận hợp tác song
phương hoặc đa phương với nước khác và nguyên tắc có
đi có lại); không coi Công ước là cơ sở pháp lý trực tiếp về dẫn độ (Việt Nam thực hiện dẫn độ theo quy định
của pháp luật Việt Nam, trên cơ sở các hiệp định về
dẫn độ và nguyên tắc có đi có lại). Trong văn bản thông
báo ngày 28-9-2009, Tổng thư ký Liên hợp quốc đã ghi 0Ð
nhận việc bảo lưu và các tuyên bố gửi kèm văn kiện phê
chuẩn của Việt Nam.
Các nội dung của Công ước cần nội luật hóa gồm:
quy định về trách nhiệm của pháp nhân; quy định về hối lộ trong khu vực tư; quy định về dẫn độ: vấn để
“giám sát” tài khoản của những người đã hoặc đang giữ
các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước, những thành viên trong gia đình hoặc cộng sự thân tín của họ nhằm phát hiện các giao dịch đáng ngờ; quy định về
hợp tác quốc tế vì mục đích thu hồi tài sản do tham
nhũng mà có; quy định về bảo vệ nhân chứng, chuyên gia và nạn nhân; quy định về việc làm giàu bất hợp
pháp; quy định về điểu tra chung; các biện pháp về phòng chống rửa tiền; quy định về đảm bảo cơ chế điều tra thích hợp trong khi vẫn đảm bảo các quy định về bí mật ngân hàng; quy định về thành lập cơ quan tình báo.
tài chính.
Hiện nay, Thanh tra Chính phủ đang chủ trì phối
hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng kế hoạch của Chính phủ về việc thực hiện Công ước, trong đó có việc
nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp
luật Việt Nam theo yêu cầu của Công ước.