Thực trạng về khoáng sản và hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định giai đoạn 2020-2022

Một phần của tài liệu baocaothuctapthacsy2022 đh quy nhơn (Trang 21 - 24)

2.1.1 Thực trạng khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định giai đoạn 2020-2022

Bình Định đã ghi nhận 18 loại khoáng sản rắn và một số nguồn nước nóng, nước khoáng.

Titan – zircon đã đựợc điều tra đánh giá ở các dải cát ven biển từ Lộ Diêu (huyện Hoài Nhơn) đến Nhơn Hội (Tp Quy Nhơn), tập trung chủ yếu ở Đề Gi, Trung Lưong (Phù Cát), Mỹ Thành (Phù Mỹ), Nhơn Hội (Quy Nhơn) với trữ lượng dự báo đạt khoảng 10

triệu tấn. Hiện nay, một số khu vực đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép khai thác quy mô công nghiệp, các khu vực nằm ngoài quy hoạch khoáng sản cả nước đựợc UBND tỉnh cấp phép khai thác hoặc khai thác tận thu.

Khoáng chất công nghiệp gồm có: fluorit, cát thuỷ tinh, thạch anh, graphit, cao lanh, than bùn. Đáng kể là:

Cao lanh: phân bổ chủ yếu ở hai khu vực mỏ Phù Cát (huyện Phù Cát), trữ lượng tiềm năng đạt 14 triệu tấn và mỏ Long Mỹ (huyện Tuy Phước và Tp Quy Nhơn) trữ lượng tiềm năng đạt trên 13 triệu tấn.

Cát thuỷ tinh có mỏ Liễu An, Hoài Phú (huyện Hoài Nhơn), trữ lượng tiềm năng có thể đạt 15 triệu tấn, mỏ Mỹ Hoá (huyện Phù Cát) có trữ lượng tiềm năng khoảng 1 triệu tấn.

Than bùn Bàu Bàng ở xã Mỹ Thắng, huyện Phù Mỹ, có trữ lượng tiềm năng đạt 372.000 tấn.

Vật liệu xây dựng gồm có: đá ốp lát, đá làm vật liệu xây dựng thông thường, cát xây dựng, sét gạch ngói, laterit.

Đá ốp lát granite phân bố rộng rãi ở các huyện An Nhơn, Phù Cát, Vân Canh và một số nơi khác. Đá ốp lát có màu đa dạng, gồm: màu đỏ, hồng màu vàng, màu xám và màu đen. Đá ở các vùng mỏ An Trường, Núi Dung, Núi Ông Dâu, Canh Vinh, Hòn Chà nổi tiếng trong nước và một số nước trong khu vực. Một số mỏ đã được khai thác như Núi Dung, An Trường, núi 282 – Canh Vinh… Đá ốp lát granite Bình Định có màu sắc đa dạng và trữ lượng tiềm năng lớn, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu và chế biến sử dụng trong nước.

Cát xây dựng: hiện nay UBND tỉnh đã quy hoạch các mỏ khai thác cát trên hệ thống các sông Hà Thanh, Lại Giang, La Tinh và sông Kôn với trữ lượng tiềm năng đạt trên 12.355.000 m3 , đáp ứng được nhu cầu xây dựng trên địa bàn tỉnh. Ngoài ra, còn các dải cát xây dựng ven biển, tại các cửa sông nhưng chưa được điều tra, đánh giá đúng mức để phát huy tiềm năng loại khoáng sản này.

Sét gạch ngói phân bố trong các trầm tích Đệ tứ dọc các sông Kôn, Hà Thanh, An Lão, Mỹ Cát và các sông khác tạo nên các mỏ như Bình Nghi, Thạch Bàn, Cát Tài huyện Phù Cát, Phú Ninh huyện Hoài Ân. Sét gạch ngói có diện phân bố và bề dày không lớn.

Đáng kể là điểm sét gạch Bình Nghi thuộc huyện Tây Sơn có diện phân bố sét dài hơn 2 km, rộng 1 km. Lớp sét dày hơn 4m. Tiềm năng dự báo của điểm sét Bình Nghi đến hơn 5 triệu m3.

Nước nóng, nước khoáng: Đã ghi nhận 5 nguồn nước khoáng - nước nóng: Hòn Lập, Hội Vân, Chánh Thắng, Cát Minh và Long M ỹ. Các nguồn nước xuất lộ trong trầm tích bở rời Đệ tứ hoặc trong đới dăm kết, khe nứt. Hiện nay có 2 nguồn nước Hội Vân và Long Mỹ đ ã đ ược thăm dò và khai thác sử dụng. Trong số các nguồn nước có hai nguồn Hội Vân và Hòn Lập có nhiệt độ cao, đạt 74 đến 85,70C có thể sử d ụng nhiệt lượng vào các mục đích khác.

2.1.2 Thực trạng hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định giai đoạn 2020- 2022

2.1.2.1 Thực trạng hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định năm 2020

Năm 2020, trên địa bàn tỉnh có 132 giấy phép khai thác khoáng sản do UBND tỉnh cấp còn hiệu lực và hoạt động, trong đó đá làm VLXD (kể cả đá xay nghiền và đá làm VLXD TT có thu hồi đá khối) có 62 mỏ, cát làm khuôn đúc 02 mỏ, cát nhiễm mặn 01 mỏ, cát sỏi lòng sông có 41 mỏ, đất san lấp 26 mỏ, đất sét 01 mỏ.

Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cấp 09 giấy phép còn hiệu lực (trong đó đá granite 03 mỏ, titan 05 mỏ, nước khoáng 01 mỏ)

Phần lớn các doanh nghiệp hoạt động khai thác khoáng sản thực hiện tương đối đúng quy định, công tác bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản được tăng cường, chú trọng, doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư nhà máy chế biến khoáng sản để nâng cao giá trị khoáng sản. Vì vậy, hoạt động khai thác khoáng sản của tỉnh dần dần đi vào chiều sâu, quy mô công nghiệp được thay thế kiểu khai thác nhỏ lẻ trước đây nên sản lượng, giá trị khoáng sản tăng, nguồn thu cho ngân sách từ khoáng sản tăng thêm, giải quyết nhiều việc làm cho lao động, góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

Cũng trong năm 2020, khai thác đá khối làm đá ốp lát đạt khoảng 150.000m3/năm, đáp ứng khoảng 40% nhu cầu nguyên liệu cho hơn 70 nhà máy chế biến đá đá ốp lát, tạo được thế mạnh của địa phương về ngành khai thác, chế biến đá trong khu vực và cả nước.

Khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường (đá xay nghiền, cát xây dựng) đã tạo ra các sản phẩm (cát đạt khoảng 750.000m3/năm, đá xay nghiền đạt khoảng 1 triệu m3/năm) đáp ứng phục vụ nhu cầu rất lớn về vật liệu xây dựng để thi các công trình xây dựng tại địa phương. Khai thác đất san lấp, mặc dù đóng góp vào giá trị công nghiệp khai khoáng không lớn nhưng đã tạo ra sản phẩm khoảng 1.200.000m3/năm, đã đáp ứng cơ bản nhu cầu đất để thi công các công trình trọng điểm của tỉnh, góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn tỉnh Bình Định.

Trong năm 2020 giá trị công nghiệp khai khoáng ước đạt khoảng 950 tỷ đồng (giảm khoảng 1,5% so với năm 2019), nộp ngân sách khoảng 180 tỷ đồng, giải quyết việc

làm hơn 4.000 lao động, thu nhập bình quân tháng của người lao động khoảng 6,5 triệu đồng.

Ngoài ra, các doanh nghiệp đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng cho địa phương trong khai thác khoáng sản ước khoảng 5 tỷ/năm.

2.1.2.2 Thực trạng hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định năm 2021

Trong năm 2021 vừa qua, việc thực hiện đấu giá, cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản, Sở Tài nguyên và Môi trường đã căn cứ theo các quy hoạch khoáng sản để tham mưu cho UBND tỉnh cấp phép hoạt động khoáng sản theo quy định.

Trong năm qua trên địa bàn tỉnh có 137 giấy phép khai thác khoáng sản do UBND tỉnh cấp còn hiệu lực và hoạt động, trong đá làm VLXD Tông thường 26 GP đá làm VLXD TT có thu hồi đá khối có 28 GP, cát làm khuôn đúc 02 GP, cát nhiễm mặn 01 GP, cát sỏi lòng sông có 41 GP, đất san lấp 36 GP, đất sét 03 GP.

Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cấp 09 giấy phép còn hiệu lực (trong đó đá granite 03 GP, titan 05 GP, nước khoáng 01 GP).

Cũng trong năm 2021, đã tham mưu UBND tỉnh cấp 30 giấy phép khai thác khoáng sản; 15 giấy phép gia hạn, 16 giấy phép thăm dò khoáng sản; 10 Quyết định phê duyệt trữ lượng khoáng sản, 12 Quyết định thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản và 01 Quyết định cho phép trả lại một phần diện tích khu vực khai thác khoáng sản; 02 giấy xác nhận khai thác khoáng sản trong khu vực có đầu tư xây dựng công trình; 04 Quyết định điều chỉnh giấy phép khai thác và 04 Quyết định chuyển nhượng giấy phép khai thác.

Bên cạnh đó, theo chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp Sở Xây dựng (cơ quan chủ trì) xây dựng phương án bổ sung quy hoạch 138 điểm mỏ (chủ yếu là các mỏ đất san lấp với 128 mỏ, tổng diện tích 1.600ha, trữ lượng 82 triệu m3) để phục vụ cho nhu cầu thi công các công trình trọng điểm, các công trình, dự án của địa phương cấp huyện, cấp xã và chuẩn bị phục vụ cho cao tốc Bắc Nam sẽ triển khai trong thời gian tới. Đến nay, công tác lập phương án hoàn thành, Sở Xây dựng đã trình UBND tỉnh xem xét, phê duyệt.

Đến cuối năm 2021, đã tổ chức đấu giá thành công 42 mỏ khoáng sản (21 mỏ cát sông, 03 mỏ cát tô, 01 mỏ cát khuôn đúc, 11 mỏ đất vụ san lấp, 03 mỏ đất sét và 03 mỏ đá xây dựng) số tiền thu được từ việc đấu giá quyền khai thác khoáng sản hơn 53 tỷ đồng (chưa tính đến các khoản nghĩa vụ tài chính liên quan khác như thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, thuê đất, đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng…)

Một phần của tài liệu baocaothuctapthacsy2022 đh quy nhơn (Trang 21 - 24)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(46 trang)
w