Sức khoẻ và bệnh tật ở tuổi nhỉ đồng

Một phần của tài liệu Giáo trình Tâm lý học phát triển (In lần thứ ba): Phần 2 (Trang 35 - 39)

SỰ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT

3. Sức khoẻ và bệnh tật ở tuổi nhỉ đồng

Khoẻ có nghĩa là không bệnh tật, ốm yếu về thể chất và tĩnh. thần

đồng thường mắc các chứng bệnh sau: nhỉ

~ Các bệnh viêm nhiễm thường gặp ở trẻ em:

Giống như giai đoạn tuổi mẫu giáo, tuổi nhĩ đồng rất dé bị mắc các chứng

bệnh viêm nhiễm: viêm não, viêm gan, viêm phổi... Những loại bệnh này không

chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới phát triển tam If ct em. Vì vậy, cha mẹ và nhà trường cần duy trì ch ăn uống hợp lí cho trẻ em và tích cực thực hiện chế độ tiêm vacxin phòng loại bệnh lây nhiễm.

~ Bệnh ‹

Còi cọc là hậu quả của sự suy định dưỡng kéo đài, do trẻ bị đói ản, thiếu chất hoặc do thiểu hụt xúc cảm và tình cảm ở các giai doạn trước. Nhiều trẻ em vùng nông thón bị còi cọc còn do phải lao dong á sớm so với tuổi. Số em này thường phải làm các công việc của người lớn: gánh nặng, mang vác hoặc lao động với cường độ cao, kéo đài. Những trẻ bị còi coc Khong chỉ yếu về

thể chất mà còn ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển tâm lí. trí tuệ và nhân cách

trong hiện tại và tương lai

tọc và béo ph:

Béo phì đang ngày càng phổ biến trong trẻ em nhí đồng ở các vùng công nghiệp, các do thi, nơi mà kinh tế - xã hội phát triển, các bậc cha mẹ có điều kiện chăm sóc con nhưng chế độ nuối dưỡng không khoa học. Một số trẻ nhỉ

đồng béo phì từ giải đoạn trước, nhưng nhiều trẻ đo cha mẹ, thấy cỏ giáo quá lo.

sợ việc học hành của trẻ nên đã yêu cầu con ăn quá mức, trẻ ít được vận động.

(chủ yếu ngồi học) trong ngày. Béo phì ở trẻ nhỉ đồng không chỉ cản trở hoạt động của trẻ mà còn có nguy cơ dẫn đến nhiều bệnh nan y hiện nay.

~ Các bệnh học đường

Một trong những nhóm bệnh đặc trưng tuổi nhỉ đồng là các bẻnft học đường.

Đó là các bệnh có căn nguyên từ việc tổ chức các hoạt động học tập, lao động

và vui chơi cho học sinh của nhà trường và gia đình chưa khoa học. Nhóm này có nhiều bệnh ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của trẻ: Nhing bénh vé thé chư:

can thi, lic mat, cong veo cột sống, gù lưng, suy nhược cơ thé, thin kinh...

Nhường bệnh phổ biến vé rim lí như tự kỉ, mặc cảm, tự tỉ, các chứng rổi nhiễu tâm lí đo áp lực của gia đình, nhà trường đến đời sống tâm lí bình thường của các em.

II.HOẠT ĐỘNG VÀ GIAO TIẾP CỦA TUỔI NHI ĐỒNG 1, Hoạt động học tập của tuổi nhỉ đồng

1.1. Đặc điểm hoạt động học tập của lứa tuổi nhỉ đồng.

Tuổi nhị đồng cũng là tuổi học sinh tiểu học, vì giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộc đối với 100% trẻ em trong độ tuổi.' Bước ngoật lớn nhất của trẻ em giai đoạn này là thay đổi hoạt động chủ đạo, từ chơi sang hoạt động học.

Hoạt động học của lứa tuổi nhĩ đồng có các đặc điểm sau:

~ Thủứ nhát: Hoạt động học của lứa tuổi nhỉ đồng khác hoàn toàn với hoạt dộng chơi của trẻ ở giai đoạn mẫu giáo.

Trong giai đoạn mẫu giáo, mặc dù đã được làm quen với các tiển để của hoạt động học, nhưng vẻ cơ bản, trẻ vẫn chưa có hoạt động học. Vì hoạt động:

học khác xa hoạt động chơi.

Bảng so sánh dưới đây cho thấy sự khác biệt giữa hoạt động chơi của máu giáo với hoạt động học của lứa tuổi nhỉ đồng:

TT ]Nội đụng so sánh Hoạt động chơi Hoại động học.

+ | Đảng ~ Bản thân quả inh chat TH nse

ls eae ~ Phương tiện để trẻ lương tác với đó vật | — Phuong en th ding 1145 tang Lic) và người lớn nhân thức và M nắng

~ Tính thực và gá. ~ Thue 3 | Tinh chất ~Tưdo. ~~ Bat bude

~ Xúc cảm -tí tuệ ~ Trẻ - cảm xúc

4, | Phuong thee tổn hành ~ Tư đều khiển [~Bebp — Tung ~ Điều khiển và tự điều Miển ie hy = 10 5 | Sin phim — Thaâ mãn nhủ cầu chi ~ Thoả mán nhủ cầu nhân thức

“Sự và phát tiển. | ~Lâ sản phẩm đikẽmy@ hoạt động chơ, là

5 | tamtica nan | két qui khdog dni noe, khang ch ich _| ~ Kt aud inh tbe, cb mac dich

tăm 2005 quy dink: * Giỏo dục tiểu học la be hoe bat bude ôti 11 tuổi, được thực hiện trong S năm học, từ lớp | đến lớp 5. Tuổi của học sinh vào học lớp mới là 6 tuổi” ; Lait Gide duc, NXB Chính trì Quốc gia, 3006,

Sự khác nhau giữa hoạt đông chơi với hoạt động học đã tạo ra khoảng cách khá lớn giữa cấu trúc tâm lí hiện có của trẻ mẫu giáo với với yêu cầu khách quan của môi trường hoạt động mới khi các em vào lớp 1. Điều này đặt ra cho

trẻ em đấu tuổi tiểu hoc phải từng bude cdi rổ lại các cấm trúc tâm lí J

thích ứng với hoạt đông và quan hệ mới. Trên thực tế, sau một năm học, hầu hết học sinh lớp I đã thích ứng được với việc học tập và quan hệ mới và da biết tổ chức hoạt động học tập của mình một cách có hiệu quả. Tuy nhiễn, còn một số chưa thích ứng được. Hậu qt

sợ đến trường với nhiều lí do

Để giúp học sinh đầu tuổi học thích ứng với h‹

động và quan hệ mới, một

mặt cần chuẩn bị đầy đủ và khoa học các yếu tố tâm lí sắn sàng di học cho trẻ mẫu giáo trước khi đến trường phổ thông. Mặt khác. trong những ngày thắng đâu đến trường các em cần dude day ad một cách đặc biệt, với một nghệ thuật sư phạm tính tế, để các em vừa ý thức được và tiếp nhận dảy đủ các yêu cầu mới của hoạt động học tập vừa duy tì, và phát triển được các nhu cấu, hứng thú, thái độ tích cực đi học của các em, dược hình thành trong những ngày dấu mới đi học.

~ Thứ hai Hoạt động học là hoạt động kép. gồm hai hoạt động có quan hệ hữu cơ với nhau: /) Hoạr động học, chủ yếu hướng đến việc tiếp thu các kiến thức khoa học, hình thành và điều chỉnh thái độ của các em, qua đó hình thành và phát triển

È kĩ năng hành động: 2) Các hoạt động tư dưỡng. tiếp thu các

chuẩn mực văn hoá, các giá trị dao đức xã hội và hình thành các lành v ứng dữ hàng ngày.

Hoạt dong học được thực hiện thông qua việc học c

món học, còn hoạt dong tu dưỡng được thực hiện thông qua nhiều hoạt động phong phú bao gồm cả hoạt đông học, có nói dung gần gũi với cuộc sống thực của học sinh chứ không

nhất thiết ph y. việc xây dưng các môn học

và các hoạt động giáo dục dành cho học sinh từng lớp của bậc tiểu học cần cả vào đặc điểm tâm - sinh lí của học sinh từng độ tuổi

và hoạt động giáo dục.

xép theo logic chat ché. Vì

cứ

sự khác biệt giữa môn hoc

— Thứ ba: Hoạt động học cũ ngay từ đâu, nó được hình thành v trường tiểu học.

tuổi nhỉ đồng không phải được hình thành

à phát triển trong suốt quá trình phát triển ở

Một hoạt động học đấy đủ dòi hỏi người học phi

hoá bởi các mục dich học và được hiện thực hoá bởi các hành động học, tức là người học phải xác định được các nhiệm vụ học tập trong các tình huống cụ thể và phải có các thao tác thực hiện nhiệm vụ gắn với các phương tiện học nhất định.

Các yếu tố này chưa xuất hiện đầy đủ ngay từ những ngày tháng đầu trẻ em đi học, mà được hình thành và phát triển dân trong quá trình học sinh học ở nhà trường. đặc biệt là các lớp đầu tiểu học. Vì vậy, vấn đề quan trọng bậc nhất đối với dạy học sinh tiểu học (nhất là các lớp dấu cấp) không phải là cung cấp cho học sinh kiến thức khoa học, mà là các thành tổ của hoạt động học. Cụ thể là hình thành cho các em học sinh cách tổ chức hoạt động nhận thức khoa học, trước hết là giúp các em có phương tiện học cơ bản, ban đảu; hình thành mục dích học cho các em, từ đó nâng lên mức động cơ học.

động cơ học, được cụ thể

1.2. Những khó khân trong học tập của học sinh đầu bác tiểu học

Bước vào học tiểu học, học sinh lớp 1 thường gặp một số khó khăn trong

học tập.

~ Thứ nhất: Sự thay đổi chế độ hoạt động và sinh hoạt. Hoạt động học ở

trường tiểu học có yêu cầu cao hơn nhiều so với ở trường mẫu giáo (phải di học đúng giờ, không được nghỉ học, bỏ học giữa buổi, trong giờ học phải ngồi theo đúng quy định, phải học và làm bài tập trên lớp và ở nhà...). Sự thay đổi tính chất của hoạt động học tập buộc trẻ phải nhanh chóng hình thành các thói quen mới. Vì vay, nếu trẻ em không được chuẩn bị những yếu tố tâm lí cần thiết để đáp ứng các yêu cầu trên sẽ thường dẫn đến sự mệt mỗi, chán, ngại đi học và kết quả học tập không cao.

~ Thứ hai: Sự *vỡ mộng” và suy giảm hưng thú và tính tích cực học tập.

Biểu hiện của sự thất vọng và suy giảm hứng thú, tính tích cực học tập của học sinh lớp 1 là ở một số học sinh đầu năm học rất thích thú, hãng hái đến lớp (di học rất sớm), tích cực thực hiện các yêu cầu của thây - cô giáo. Nhưng sau vài tháng học, các em bắt đầu ngại việc di học, thích được nghỉ, thờ ơ, chếnh mảng với việc học... Nguyên nhân 1a vé phia học sinh, nhiều em thích thú đi học do sự hấp dẫn bể ngoài của việc học: được đến trường, được mặc quần áo đẹp, ách... Sau một thời gian học sự thích thú đó giảm, dẫn đến chán, - Về phía nhà trường, cách tổ chức dạy học chưa phù hợp với sự phát triển tâm lí lứa tuổi. Trong giai đoạn mẫu ác hoạt động chơi của các em.

mang tính độc lập, tự do sáng tao. Chuyển sang hoạt động học tập, có kỉ luật, phải lầm theo những chi din của giáo viên... Hệ quả là các em cảm thấy vil học trờ nên kém hấp dẫn, nặng nề. Vi vậy, tổ chức tiết học theo hướng mở, linh.

hoạt, sinh động, khêu gợi trí sáng tạo của học sinh là điều cần thiết đối với người giáo viên dạy lớp 1.

Một phần của tài liệu Giáo trình Tâm lý học phát triển (In lần thứ ba): Phần 2 (Trang 35 - 39)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(117 trang)