SỰ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT
1. Sự hoàn thiện ngi phap va ngit nghia ctia ngon ngir noi
Những năm tiểu học, trẻ em hoàn thiện ngôn ngữ nói của mình. Điều này được thể hiện qua hai phương diện dễ nhận thấy: Khác phưục ngon ngữ tự KỈ trưng
tầm, hình thành ngôn nạữ bên trong; sự hoàn thiện ngữ pháp và nẹữt nghĩa.
1.1. Khắc phục ngôn ngữ tự kỉ trung tâm
Hiện tượng ngôn ngữ tự kỉ trung tâm bộc lộ rõ nhất trong thời kì trẻ mẫu giáo, với những đặc điểm nổi bật: 1) Ngôn ngữ tư kị
nói cho mình) và chỉ xuất hiện khi trẻ em trao đổi tập thể. Vì vậy, còn gọi là
ngôn ngữ độc thoại tập thể; 2) Khi nói, trẻ tin rằng người xung quanh hiểu được
những câu nói của mình; 3) Ngôn ngữ để cho mình này có đặc điểm của ngôn ngữ bên ngoài hoàn toàn giống như ngôn ngữ của xã hội, chứ không phải là lời nói thẩm cho mình một cách khó hiểu.
“Theo L.X. Vugửtxki, sự phỏt sinh va phỏt triển ngụn ngữ cỏ nhõn bắt đấu từ.
bên ngoài của xã hội, sau đó chuyển dấn thành ngôn ngữ bên trong của cá
nhân. Trong quá trình chuyển vào trong đó diễn ra giai đoạn tự kí. Nguồn gốc
của ngôn ngữ bên trong là từ
ngôn ngữ độc thoại (trẻ
n ngữ bên ngoài. Con dường đi của nó tất yếu
là: Ngôn ngữ ngoài + Ngôn ngữ tự kỉ trung tâm —> Ngôn ngữ bên trong.
Bước sang tuổi nhỉ đồng hiện tượng ngôn ngữ tự kỈ trung tâm ở trẻ em:
không còn bộc lõ rõ. Chúng chỉ xuất hiện trong các trường hợp trẻ gặp khó tiếp nhận những từ khó, xa lạ hoặc ngôn ngữ mới. Nguyên nhân chủ la việc giảm rõ rệt tính tự kỉ trong ngôn ngữ của trẻ là do các em đã có vốn ngôn ngữ bên trong khá phong phú, có khả năng làm công cụ nhận thức và tương tắc xã hội với người khác. Đồng thời trẻ đã hoàn thiện được ngôn ngữ nói cả về ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa.
1.2. Sự hoàn thiên ngữ pháp và ngữ nghĩa
“Trong lứa tuổi nhí đồng diễn ra mạnh mẽ sự hoàn thiện ngữ
trong ngôn ngữ của trẻ
em tích cực sửa các lỗi phát khuôn mẫu ngữ pháp phức tạp như câu phúc có nhiều mênh d
Song song với quá trình hi
àn thiện ngữ âm và ngữ pháp, ở trẻ cũng phát triển mạnh khả năng hiểu nghĩa từ. hình thành từ mới. Nếu ở thời điểm trước tudi di học, trẻ em hiểu khoảng 3.500 dến 4.000 từ, thì những năm cuối tiểu họ các em cỏ thể hiểu đến 10.000 từ. Các em không chỉ hiểu nghĩa gốc (nghĩa den)
của từ mà còn hiểu cả nghĩa bóng của nó. Khi hình thành các thao tác trí tuệ và nhận thức được tính nhân quả, trẻ em có thể hiểu và sử dụng khá chính xác các từ trừu tượng như anh hùng, hèn nh
a trẻ cũng trở nên thông thạo hon trong việc tích hợp ngữ nghĩa, tức là hình thành những suy điễn ngôn ngữ cho phép trẻ hiểu nhiều hơn những gì được nói ra. Chẳng hạn, trẻ 8 tuổi khi nghe những câu “Hưng không nhìn thấy hòn đá, Hòn đá ở trên đường. Hưng ngã bổ nhào” thì có thể suy diễn là Hưng vấp phải đá, 'Tuy nhiên, ở tuổi này, trẻ cho rằng, việc Hưng vấp phải đá chính là nội dung
của câu chuyện chứ không phải là do chúng suy diễn. Phải đến 9 - 10 tuổi các
đù tỏch ra được nhận định đú là sự suy diễn của mỡnh. Sự kiện này đỏnh dấu
khả năng nhận thức về ngôn ngữ của trẻ. Thực ra, khả năng tư duy
và nhận xét về ngôn ngữ dã hình thành ở trẻ mẫu giáo lớn (trong thực tế cô giáo
trẻ: Nếu chữ /œi thêm đấu huyền sé thanh ct .. Tuy
nhiên, kiến thức ngôn ngữ học của trẻ mẫu giáo còn rất hạn chế. Chỉ đến khi
học tiểu học, khả năng này mới phát triển mạnh mẽ ở trẻ em và đó cũng là một trong những đặc trưng phát triển ngôn ngữ lứa tuổi này.
Sự hoàn thiện ngôn ngữ cơ bản của trẻ không diễn ra một cách tư phát nhự ở lứa tuổi trước, mà là một quá trình tự giác có tổ chức từ ph
sự rền cặp của thấy cô giáo và chịu tác động mạnh mẽ của hành động đọc và viết tiếng mẹ đẻ - một hành động đặc trưng và là thành tựu lớn trong quá trình
phat triển ngôn ngữ của học sinh tiểu học.
nhà trường, đưới
2, Hình thành năng lực đọc và
Kết thúc lớp 1, ngoài năng lực nghe và nói đã được hình thành trước đó, ở trẻ em 7 tuổi bước đầu đó là An lực sĩ dụng chữ viết đạc và xế
vì ở trẻ lúc này cổ thêm mgt nang, Ive mii, những năng lực khác như năng lực toái
từ hãng lye nay 9
Kết thúc
quy định cụ thể, như học hết Mại 1 học sinh cần dạt chuẩn (yêu cấu tối thiu
đọc 30 tiếng/phút. ví Ä 25iếng/13 phá: kế thú lớp 5 học sinh phủ
đạt chuẩn: đọc an (khoảng 150 tiếng/phút); đọc cổ
biểu cảm bài văn, bài thơ ngân; ý bài dọc. Viết bà miêu tả. Bước dâu biết ghi chép đơn giản khi nghe ý kiến hoặc nghe kể chuyện. Nồi
rõ ý kiến khi thảo luận, nói thành đoạn khi kể hoặc tả (Quy định cho giai đoạn
thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học trong thập niên 90 của thé ki XX),
Sự kiện biết đọc, biết viết làm thay đổi sâu sắc hoạt động ngôn ngữ và nhân thức của trẻ. Một mặt, giúp các em chuyển từ trình độ ngôn ngữ dân gian sang
các cơ sở của ngôn ngữ khoa học, mặt khác, tạo ra nhu cẩu rèn luyện
dụng ngôn ngữ khoa học của trẻ trong giao tiếp và trong đời sống. Trẻ có ý thức rõ rệt vẻ việc rèn luyện ngôn ngữ (đọc, viết, nói) trong giao tiếp (thích nói kiểu cách, văn vẻ, đầy dủ ngữ pháp...). Đồng thời, nhờ biết đọc, nhu cầu nhận thức
à sử
được tăng lên rất nhiều. Biểu hiện rõ nhất của sự kiện này là trẻ ham đọc, mê đọc,
đọc mọi lúc, mọi nơi, mọi thứ. Vì vậy, định hướng đọc cho trẻ là việc quan trọng của nhà trường
gia đình
“Trong thực tiễn, khả năng đọc và viết của trẻ nhí đồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đú cú ba tỏc nhõn quan trọng. Thư ứtiấi: Phụ thuộc vào đường lối và phương pháp đạy đọc và viết của nhà trường. Thực nghiệm của nhiều nhà
tâm lí học sư phạm đã chứng minh, các chiến lược dạy khác nhau với các phương pháp dạy khác nhau dẫn đến mức độ và tính chất đọc và viết khác nhau ờ học sinh tiểu học. 7 hai: Phụ thuộc vào vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ thời kì tiền học đường. Đặc biệt là mức độ hiểu âm vị và khả năng phát âm của trẻ
trước khi học đọc và viết. Các nghiên cứu đã cho thấy có tương quan chật giffa
kết quả học đọc và viết với mức độ hiểu ngữ âm của học sinh lớp !. Các em dọc
kém đồng thời cũng kém hiểu biết vẻ ngữ âm, Điều này cho thấy, việc chuẩn bị von ngôn ngữ cơ bản cho trẻ trước khi vào tiểu học quan trong hơn rất nhiều so.
với việc dạy trước việc đọc và viết cho các em. Tư ba: Sự trải nghỉ
ngữ của trẻ trong cuộc sống. Nếu trong thời kì phát triển ngôn ngữ cơ bản và
trong quá trình học đọc và viết, trẻ được trải nghiệm nhiều về ngón ngữ như được nghe dọc, kể nhiều chuyện, được trao đổi nhiều, giao tiếp nhiều... thì việc
học đọc và viết sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn
'V. SỰPHÁT TRIEN GIỚI
Sự phát tr sinh học giới và
1 gidi của cá nhân được đặc trưng bởi sự tương tác giữa hai yếu tổ ọ hội - tõm lớ giới.
1. Sự tham gia và phát triển của yêu tổ sinh học giới
Trong suốt thời kì từ sơ sinh đến trước tuổi dậy thì (khoảng l1 - 12 tuổi).
các cơ quan sinh dục của bé trai và gái phát triển bình thường nếu sự tiết
hoocmôn Testosterone không bị rối loạn.
Khi đạt đến tuổi dậy thì, các yếu tố sinh học lại một lần nữa can thiệp mạnh mẽ vào sự phát triển giới của trẻ em. Một lượng lớn hoocmôn giới tính được tiết ra, kích thích sự phát triển mạnh mẽ của các cơ quan sinh dục, xuất hiện những.
Jc tính giới thứ cấp và những như cầu giới trở lên cấp thiết. Những sự kiện này kết hợp với khả năng ý thức vẻ bản thân đã giúp cho trẻ dậy thì nhận dạng giới tính bản thân và lựa chọn giới tính một cách chắc chắn. Trong các trường hợp trẻ trai bị hội chứng nữ hoá thì đến tuổi dậy thì do lượng hoocmôn nam tiết r4 rất lớn, dẫn đến cơ quan sinh dục ngoài có thể trở thành của nam. Những bé gái
bị hội chứng nam hoá có nhiều biểu hiện nam tính hơn các bạn khác. Điều này
bóc lộ khá rõ ở tuổi trưởng thành.
Như vậy, có thể nói yếu tố sinh học đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển
giới của cá nhân. Nhiều công trình nghiên cứu về sự thay đổi giới tính do phẫu
thuật đều cho thấy xu hướng quay trở lại giới tính ban đầu hoặc sẽ gập rất nhiều
khó khăn vẻ giới trong cuộc sống.
3, Sự phát triển giới về phương diện xã hội - tâm lí
Khí đứa trẻ ra dời, sẽ nhanh chóng bị những yếu tố xã hội về giới gây ảnh hưởng. Trẻ nhận ra mình là trai hay gái không phải bởi do cấu tạo cơ thể mà là do cách đối xử của người lớn đối với chúng.
Khi được 5 - 7 tuổi, nhận thức về giới của trẻ trở lên rõ ràng và ổn định hơn. Trẻ đã biết con trai không thể thành gái. khi lớn thành đàn ông cồn con gái
lớn lên thành đàn bà; cũng như giới của một người không thay đổi khi thay đổi
kiểu đầu tóc, quần áo... Trẻ nhỉ déng ngày càng phát triển hiểu biết về mẫu giới.
rõ đồ chơi nào, hoạt động à thành tưu nào phù hợp với . Các em đã dùng khá chính xác và phong phú các từ ọ sự tương phản về tõm lớ giữa hai giới.
“Trẻ nhỉ đồng bộc lộ rất rõ yếu tố giới trong các trò chơi và trong giao tiếp.
“Trong suốt thời kì nhỉ đồng, trẻ đành nhiều thời gian chơi với bạn cùng giới (nhiều hon giip hang el ú lới này dược ý đáy lên cực đoan ở
tuổi cuối tiểu học, r:
(sơ) ngói học cùng bị
Mặc dù từ duy về giới của trẻ nhỉ đồng đã mềm dẻo hơn so với trẻ tiển học đường, nhưng trong nhận thức vẻ chuẩn mực giới vẫn còn cứng nhắc. Các em nam đã chấp nhận chơi với bạn nữ, nhưng rất nghiêm khắc với các bạn trai có
hành vì ứng xử như con gái. Các em coi việc con trai có hành vi như và phạm về đạo dứ
Ngay từ thời mẫu giáo, trẻ đã có ý thức vẻ vai trò và chuẩn mực giới. Ý thức này ngày càng dược phát triển ở tuổi tiểu học. Trong suốt giai đoạn tiểu học, ấp lực về giới đối với các em trai thường lớn hơn các em gái. Nhiều em gái có thể xin các đồ chơi và chơi các tò chơi của em trii, có các hành vi "nghịch ngợm”
“Tất cả các điều này thường vẫn được nếu một cậu bé, nói rằng mình muốn
an bé chấp nhận. Ngược
là con gái thi đó là sự bất thường.
Sự phát triển giới về phương diện xã hội ~ tâm lí của trẻ em nói chung, trẻ tiểu học nói riêng chịu ảnh hưởng rất lớn của giáo dục và văn hoá gia đình. Trẻ càng nhỏ thì ảnh hưởng vẻ giáo dục giới của cha mẹ càng lớn. Bố mẹ càng khuyến khích hoặc không đồng tình với hành vi giới của trẻ thì trẻ càng nhanh tiếp thu và thể hiện vai giới mà cha mẹ mong muốn.
Bên cạnh gia đình, đối với trẻ em các lứa tuổi học sinh thì sự tác động của nhóm bạn cùng tuổi và của các phương tiện truyền thóng cũng đồng vai trò quan
trọng. Ngoài ra, sự nhận thức và nhập vai giới về phương diện xã hội - tâm lí của
trẻ em còn chịu sự tác động của yếu tố văn hoá trong công đồng.