Định hướng giá trị nghé và chọn nghề của thanh niền học sinh

Một phần của tài liệu Giáo trình Tâm lý học phát triển (In lần thứ ba): Phần 2 (Trang 107 - 112)

II. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÍ CHỦ YẾU CỦA THANH NIÊN

3. Định hướng giá trị nghé và chọn nghề của thanh niền học sinh

Chọn nghề luôn là mối quan tâm thường trực của học sinh trong suốt thời kì học trung học phỏ thông thậm chí trung hoc cơ sở. Những cảu hỏi kiểu như học lên dại học hay học nghế? Vào học trường nào? Sẽ làm nghẻ gì? Sẽ trở thành người như thế nào vé phương diện nghề nghiệp?... Nhiều công trình nghiên cứu

đã phát hiện, trong quá trình định hướng giá trị và chọn nghề sự biển đổi của

thành niên hoe sinh va sinh viên trải qua ba giai đoạn:

đạ

~ Giai đoạn 1: Bắt đầu 13 hoặc 5 trổi (cuối THCS đấu THPT). Giai đoạn ày ở trẻ em xuất hiện những biểu tượng ban đầu về nghề nghiệp và giá trị của các nghề, Các em đã có sự đánh giá, so sánh những yêu cầu của các nghề với khả năng của mình đối với nghề đó. Đặc điểm chung của giai doạn này là trẻ em đã hướng đến một số nghề nhất định sẽ theo dudi trong tương lai. Tuy nhiên, các em thường đánh giá cao bản thân mình và lí tưởng hoá lĩnh vực nghề

nghiệp sẽ chọn, do sự hiểu biết về nghề cũng như hệ thống nghề trong xã hội

còn mơ hồ, cảm tính và phiến diện. Định hướng ban đầu vẻ nghẻ của trẻ em trong giai doạn này chưa ổn định, thường xuyên thay đổi theo mức độ nhận thức của các em qua các năm học.

~ Giải đoạn 2: Bắt dâu thường từ 16 đến 18 tuổi (cuối THPT): Giai đoạn cực thể hoá. Trong giai đoạn này thanh niên rất tích cực tìm hiểu đặc điểm các

nghê trong xã hội, thường xuyên so sánh, cân nhắc các giá trị cũng như các yêu

cầu của từng nghề và thường xuyên đối chiếu với kh điều kiện của bản thân. Các em đã rất tích cực học tập các môn học liên quan trực tiếp tới việc tuyển chọn một vài nghề dự định sẽ theo đuổi. Đến năm cuối của trung học phổ thông hấu hết học sinh đã lựa chọn cho mình một vài nghề và trường học nghề tương ứng. Đồng thời cũng đã chuẩn kiến thức và tâm thế cho việc tuyển chọn và học nghề đã lựa chọn.

~ Giai đoạn 3: Bắt đấu tit 19 đến 200 tuổi (tuổi sinh viên học nghề): Giai đoạn thực hiện. Trong giai đoạn này thanh niên trực tiếp t

a c cụ thể của nghề, Đây

kiến thức, hình thành kĩ năng và các yếu tố tâm lí phù hợp với các công việc của nghề trong tương lai. Mặc dù đang học nghề nhưng trong giai đoạn này tâm lí

nghẻ của cá nhàn thường không ổn định, hay dao động. Vì vậy, việc tiếp tục hướng nghiệp cho sinh viên là rất cần thiết ð ra sự ổn định tâm lí và tâm

thể tích cực cho việc chuẩn bị bước vào guồng máy sản xuất của xã hội.

Có sự khác biết tương đối rõ ràng về các phương diện cá nhãn, giới, tắng lớn xã hỏi và truyền thống văn hoá trong việc định hướng giá trị và chọn nghề của thanh niên học sinh trước khi bước vào các trường học nghẻ.

Mặc dù luôn tran trở với nghề nghiệp trong tương lai nhưng sau khi kết thúc THPT nhiều em vẫn chưa chọn cho mình nghẻ phù hợp với mình. Vi day là công việc rất khó khan đổi với thanh niên học sinh. Quá trình định hướng giá trị va chon nghề của thiếu niên và thanh niên học sinh chịu sự tác động của nhiều

yếu tố như: sự phát triển, biển đổi và quảng bá của mạng lưới nghề trong xã hội

trên các phương tiện thông tin và các phương thức khác; mức độ tích cực học sinh; yếu tở văn hoá cộng đồng và hoạt động hướng nghiệp của xã hội.

Trong suốt thời kì định hướng giá trị và chon nghẻ của thanh niên học sinh.

a định, nhà ội có vai trò chủ đạo.

việc hướng nghiệp của trường và 3

IV. HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP VÀ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÍ CỦA THANH NIÊN

SINH VIÊN

1. Sinh viên và hoạt động của sinh viên 1.1. Quan niệm về giai đoạn tuổi sinh viên

“Thuật ngữ "iu tiến” có gốc từ tiếng Latinh "Studens”, nghĩa là người làm

việc, người tìm kiếm, khai thác trí thức. Sinh viên là những người đang chuẩn bị

cho một hoạt động mang lai lợi ích vật chất hay tỉnh thắn của xã hội. Các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học, sản xuất hay hoạt đông xã hội của họ đều

phục vụ cho việc chuẩn bị tốt nhất cho hoạt động mang tính nghề nghiệp của.

mình sau khi kết thúc quá trình học trong các trường nghề.

Vẻ tuổi sinh học, đa số sinh viên thuộc lứa tuổi thanh niên từ 17 đến 35

tuổi, một sổ ít có tuổi đời thấp hoặc cao hơn tuổi thanh niền. Vì vậy, sự phát triển và trưởng thành về giải phẫu và sinh lí của tuổi thanh niên là đặc trưng cho

lứa tuổi sinh viên,

anh niền học xinh là nhóm v tham giá

Vẻ phương diện xã hỏi. sinh viên cũng giống t

người chưa ổn dịnh, còn phụ thuộc về địa vị xã hội do chưa thực s

hội. Vì vậy, đặc điểm tâm lí của họ có phần

hh niên cùng lứa tuổi nhưng ó việc làm ổn định và trưởng.

vào guồng máy sản xuất của

khác so với t

thành về nghề nghiệp.

1.2, Hoat dong hoe tap và đặc điểm tâm lí của sinh viên

'Tủy nhiên, học tập,

Hoạt động học tập là hoạt dong chủ yếu của sinh

của thanh niên học sinh cả vẻ chức năng, tính chất và

nh viên khác xa học

động cơ học.

1.2.1. Chức năng học của sinh viên

Học của sinh viên không đơn thuần là lĩnh hội các tí thức Khoa hoe phd thong mà là quá trình học tập nghé nghiệp. Đđi tương học của sinh viên là tỉ thức, Kĩ năng lĩnh vực khoa

và nhân cách nghẻ. Ngay cả những sinh viên học tập trong

học cơ bản như Toán, Vật lí, Hoá học, Triết học.... thì đó cũng là quá trình hoe mang tính nghề nghiệp, là quá trình chuẩn bị trở thành chuyên gia trong các Tinh vực khoa học đó.

1.2.2. Tính chất học của xinh viên

Do chức năng học tập mang tính nghể nghiệp cao nên tính chất học của

sinh viên có nhiều điểm khác với học phổ thỏng..

~ Thứ nhất: Tính mục dích của việc học rất rõ ràng. Học tập trong các trường đại học, cao đẳng hay trường nghề là quá trình học nghề, học để trở thành người lao động có Kĩ năng cao và sáng tạo trong lĩnh vực nghề tương ứng.

~ Thứ lai: Đổi tượng học tập của sinh viên là hệ thống trì thức, kĩ nâng cơ bản có tính hệ thống và tính khoa học của một lĩnh vực khoa học công nghệ nhất định. Điều này khác với học trong trường phổ thông là những trì thức khoa học có tính phổ thông và đã được sư phạm hóa cao.

~ Thứ hà: Học tập của sinh viên mang tính nghiên cứu cao. Ở phổ thông, học sinh chủ yếu làm việc với giáo viên. học theo kiến thức và chỉ dẫn của thầy Trong khi đó, ở đại học. sinh viên chủ yếu làm việc với các tài liệu khoa học, việc học của sinh viên chủ yếu mang tính tự nghiên cứu, tìm tồi trong các tài liệu khoa học, các phương tiện thông tin, kĩ thuật, trên thư viện, phòng thực hành, thực nghiệm.

Do sự khác biệt này nên các sinh viên mới nhập học (năm thứ nhất) thường gap bỡ ngỡ, khé khan trong việc chuyển từ phương pháp học phổ thông sang học.

theo phương pháp học đại học. Vì vậy, nhiều sinh viên không đạt thành tích học tập cao, mặc dự khi học phổ thụng luụn là học sinh giỏù. Ở đõy những buổi trao đối vé phương pháp học tập cho sinh viên mới vào trường thường có ý nghĩa thực tiễn to lớn, giúp cho họ nhanh chóng thích ứng với phương pháp học mới.

nh viên mang tính tự giác cao. Học tập của học xinh phổ thông luôn có sự kiểm tra thường xuyên của tập thể lớp và ủa giáo viên, bảng nhiều hình thức như: kiểm tra đầu hay giữa tiết học, kiểm tra

thường kì... Tức là việc học của học sinh phổ thông diễn ra trong kỉ luật của tổ chức.

i. việc học của sinh viên h độc lập, tự do cao. Họ được toàn quyền quyết định việc học của mình theo yêu cầu của giảng viên. Vì vậy, cốt lõi trong việc học của sinh viên là sự wự ÿ “ức vé lọc sáp của họ, đặc biệt là trong môi

trường học theo tích tuỹ tín chỉ. Trong diều kiện tính độc lập, tự do cao thì sự tự ý thức và tính kỉ luật tự giác là nhân tố quyết định sự thành công của việc học.

Chỉ có sinh viên nào biết tổ chức quá trình học tập của mình một cách khoa học, tự giác thì mới hi vong mang lại kết quả cao. Ngược lại, sẽ dẫn đến hiện tượng học dồn, học ép và nảy sinh các hành vi tiêu cực kh sắp đến ngày thí.

Những đặc điểm trên cho thấy học tập của sinh viên có sự vé tri tuệ và nhàn cách. Đó là sự chuẩn bị trực tiếp các yếu tổ

bước vào môi trường lao động nghề nghiệp căng thẳng của tuổi trường thành

1.2.3. Động cơ học của sinh viên

Đông cơ học của sinh viên có sự phân hoá và da dạng hơn so với học phổ thong.

Trong quá trình học ở dại học, mỗi sinh viên thường có các động cơ học tập nhằm thoả mãn nhu cầu riêng của mình. Có thể khái quát thành bốn nhóm động cơ học phổ biển trong sinh viên'

~ Động cơ nhận thức khoa lọc: Sinh viên có động cơ năy là học tập nhằm thoả mãn nhủ cẩu trì thức khoa học. Họ học vì xảy mê, hứng thú đối với các vấn để lí luận khoa học, vì sự khát khao khá

~ Động cơ nghề nghiệp: Đa số sinh viên học tập vì nhủ cầu nghề nghiệp sau này, Họ học tập vì muốn tạo ra cơ sở vững chắc cho nghề nghiệp tương lai.

n phá trí thức mới

— Động cơ học vỉ giá tị xã hội: Những sinh viên này học chủ yếu không

phải vì như cầu kiến thức hay nghề nghiệp mà chủ yếu vì giá trị xã hồi của việc học mang lại. Chẳng hạn, nhiều sinh viên học tập do ý thức trách nhiệm công dan, mong muốn được cống hiến vì lợi ích của dân tộc, cộng đồng... Thuộc loại

đông cơ này có cả những sinh viên vì lợi ích cá nhàn cần bằng cấp để cần đảm

bảo cho lợi ích khác.

~ Động cơ tự khẳng định mink trong học táp: Đây là những sinh viên ý thức.

được năng khiếu, khả năng, sở trường của mình và mong muốn được khẳng định chúng trước mọi người

Những động cơ trên đều có giá trị thúc đẩy hoạt dong học tập của sinh viên Tuy nhiên, tuỳ thời điểm và tuỳ loại sinh viên, các động cơ trên có sức mạnh thúc đẩy khác nÍ

Có nhiều yếu tổ ảnh hưởng tới động cơ học của sinh viền như: nội dung trì thức khoa học, phương pháp dạy học của giảng viên. ý thức của sinh viên về giá trị của việc học...

1.3. Các hoạt động khác của sinh viên

Ngoài hoạt động học tập nghề nghiệp, nghiên cứu khoa học, hầu hết sinh tham gia các hoạt đông chính trị - xã hội. hoạt động thể thao,

Hoạt động chỉnh tị xã hội là biểu hiện sự trưởng thành về mặt xã hội của thanh niên sinh viên. Hấu hết thanh niên sinh viên hứng thú và nhiệt tình tham i ạt động của tập thể lớp của trường hội rộng lớn tác động mạnh mẽ tới đời sống xã hội. Có thể nói sinh viên là tắng lớp rất nhạy cảm với các sự kiện chính trị xã hội và là tầng lớp có tính tích et li cao. Họ sẵn sàng tham gia vào các

sự kiện chính trị với sự say mê và cống hiến, hi sinh của tuổi trẻ. Vì vậy, trong.

thực tiền, thanh niên là lực lượng tiên phong và chủ lực trong các hoạt động.

chính trị - xã hội của đất nước.

Bờn cạnh cỏc hoạt đụng chớnh trị - xó hội. sinh viờn cũn rọt tớch cực tham gia các hoạt động văn hoá. văn nghệ, thế thao. du lịch - các hoạt động thể hiện sự năng động của tuổi trẻ. TÌ c hoạt động này, sinh viên có điều kiện để hoe tap, để thể hiện và khẳng định mình, đồng thời ao lưu và kết ban với nhau, nhằm thoả mãn như cầu tình bạn, tình yêu và

Một loại hoạt động đặc biệt, ngày càng thu hút nhiều thanh niên sinh viên

coi là cá biệt thì ngay nay có tính phố biến trong sinh viên. Nhiều sỉ ngoài học tập. thường.

rong các xưởng, gia sư, phục vụ tại các nhà hàng..). Có nhiều loại động cơ thúc đẩy sinh viên lao động có thu nhập như: mong muốn dược thực hành thêm

vé nghề đang học, nâng cao thêm hiểu biết vẻ xã hội... Tuy nhiên, đa số trường.

hợp là do nhu cảu thu nhập kinh tế. Việc làm them ngoài giờ học của nhiều

xinh viên có thể mang xong cũng gây nhiều phiên phức

rình học tập và rên luyện nghề nghiệp của sinh viên. Trong thực tiễn

dày là vấn để cần được xã hôi q

Một phần của tài liệu Giáo trình Tâm lý học phát triển (In lần thứ ba): Phần 2 (Trang 107 - 112)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(117 trang)