Giới thiệu và hướng dẫn làm bài thi trắc nghiệm khách

Một phần của tài liệu Bài tập Thương mại điện tử (Trang 95 - 99)

PHẦN 2. GIỚI THIỆU VÀ HƯỚNG DẪN LÀM BÀI THI HẾT HỌC PHẦN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CĂN BẢN

2.1. Giới thiệu và hướng dẫn làm bài thi trắc nghiệm khách

Học phần TMĐT căn bản của Bộ môn Nguyên lý TMĐT là học phần đầu tiên của trường Đại học Thương Mai tiến hành thi trắc nghiệm trên máy tính. Sau 3 kỳ triển khai (bắt đầu từ kỳ 2 năm học 2011- 2012), hình thức thi này của Khoa TMĐT được Nhà trường đánh giá khả quan. Đề thi có chất lượng tốt, có khả năng sàng lọc người học, bao quát được nội dung học phần, kết quả thi nhanh, chính xác. Từ đó, chúng tôi đã tổng hợp lại một số nội dung trọng tâm đưa vào cuốn sách này để hướng dẫn cho sinh viên nhằm giúp các em chủ động trong cách học và nghiên cứu học phần.

Có thể thấy, trắc nghiệm khách quan (Objective test) là một phương thức kiểm tra, đánh giá về kiến thức hoặc để thu thập thông tin. Đề thi trắc nghiệm khách quan thường bao gồm rất nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu lên vấn đề và những thông tin cần thiết để sinh viên có thể lựa chọn câu trả lời cho từng câu một cách ngắn gọn. Theo nghĩa chữ Hán, "trắc" có nghĩa là "đo lường", "nghiệm" là "suy xét", "chứng thực". Trắc nghiệm xuất hiện từ thế kỉ 19, do một nhà khoa học người Mỹ nghĩ ra nhằm đánh giá trí thông minh của con người. Sau đó, được phát triển bởi hai nhà tâm lý học người Pháp.

Lợi ích của trắc nghiệm khách quan:

- Khảo sát được số lượng lớn người học (sinh viên). Có thể tiến hành kiểm tra đánh giá trên diện rộng trong một khoảng thời gian ngắn.

- Kết quả nhanh, khách quan.

- Điểm số đáng tin cậy.

- Công bằng, chính xác.

96 - Bài kiểm tra có rất nhiều câu hỏi nên có thể kiểm tra được một cách hệ thống và toàn diện kiến thức và kĩ năng của học sinh, tránh được tình trạng học tủ.

- Sự phân phối điểm trải trên một phổ rất rộng nên có thể phân biệt được rõ ràng các trình độ của sinh viên.

Hạn chế của trắc nghiệm khách quan:

- Sinh viên có khuynh hướng đoán mò đáp án.

- Không thấy rõ diễn biến tư duy của sinh viên. Khó đánh giá được khả năng diễn đạt, sử dụng ngôn ngữ và quá trình tư duy của sinh viên để đi đến câu trả lời.

- Thực sự có hiệu quả khi cần sàng lọc tri thức chuyên ngành (cấp cơ sở) vì biên soạn khó, tốn nhiều thời gian, thậm chí sử dụng các phần mềm để trộn đề.

- Không góp phần rèn luyện cho sinh viên khả năng trình bày, diễn đạt ý kiến của mình. Học sinh khi làm bài chỉ có thể chọn câu trả lời đúng có sẵn.

So sánh phương pháp trắc nghiệm khách quan và phương pháp luận đề:

- Một câu hỏi luận đề đòi hỏi sinh viên phải tự suy nghĩ ra câu trả lời rồi diễn đạt bằng ngôn ngữ riêng của bản thân, câu hỏi trắc nghiệm buộc sinh viên phải chọn duy nhất một câu đúng nhất.

- Một bài luận đề có rất ít câu hỏi nhưng sinh viên phải diễn đạt bằng lời lẽ dài dòng, còn một bài trắc nghiệm có rất nhiều câu hỏi nhưng chỉ đòi hỏi trả lời ngắn gọn nhất.

- Làm bài luận đề cần nhiều thời gian để suy nghĩ và diễn đạt, còn khi làm trắc nghiệm thời gian đó cần để đọc và suy nghĩ.

- Chất lượng bài luận đề phụ thuộc vào kỹ năng người chấm bài, còn chất lượng bài trắc nghiệm phụ thuộc vào kỹ năng người ra đề.

- Một đề bài luận đề tương đối dễ soạn nhưng khó chấm điểm, còn trắc nghiệm thì khó soạn nhưng dễ chấm điểm.

- Với bài luận đề, sinh viên tự do bộc lộ suy nghĩ cá nhân, người chấm tự do cho điểm theo xu hướng riêng; bài trắc nghiệm

97 chỉ chứng tỏ kiến thức thông qua tỉ lệ câu trả lời đúng, người ra đề tự bộc lộ kiến thức thông qua việc đặt câu hỏi.

- Một bài trắc nghiệm cho phép và đôi khi khuyến khích sự "phỏng đoán" đáp án, nhưng một bài luận đề cho phép sử dụng ngôn từ hoa mỹ để phân tích và ra đáp án.

Dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan học phần TMĐT căn bản:

Thông thường, có 4 loại câu hỏi trắc nghiệm chính là:

Đúng/Sai, Lựa chọn, Ghép hợp, Điền vào chỗ trống. Tuy nhiên, với học phần TMĐT căn bản, đề thi trắc nghiệm khách quan chỉ tập trung vào dạng câu hỏi Lựa chọn. Dạng trắc nghiệm này gồm hai phần:

- Phần gốc là một câu hỏi, một tình huống kinh doanh, tên một website, giới thiệu một mô hình, cách thức thu lợi nhuận hay một câu được bỏ lửng như trích dẫn khái niệm, câu nói của một diễn giả, phát biểu của một chuyên gia…Phần này được chia thành 2 cấp độ 1,2 tương ứng dễ, khó. Với tỷ lệ 32 câu cấp độ 1, 18 câu cấp độ 2 trong 1 đề 50 câu (thi trong 60 phút).

- Phần trả lời: bao gồm 4 phương án giải đáp câu hỏi, nhận dạng mô hình kinh doanh, đánh giá tình huống, phân tích cách thức thu lợi nhuận của website…Tuy nhiên, trong 4 phương án đó, chỉ có một phương án đúng hoặc tối ưu nhất.

- Độ may rủi: 25%

Những điểm cần lưu ý khi làm bài thi trắc nghiệm TMĐT căn bản trên máy tính:

- Hình thức thi trắc nghiệm trên máy tính chỉ áp dụng cho học phần TMĐT căn bản 3 tín chỉ, đối tượng học là Chính quy hệ Đại học.

- Ca thi học phần TMĐT căn bản khác với ca thi thông thường của trường Đại học Thương mại. Lý do là bởi, số lượng sinh viên mỗi lần thi ít nên 1 ca thi thông thường được chia nhỏ hơn. Do đó, sinh viên cần lưu ý nhìn kỹ giờ thi bên cạnh ca thi, để đến phòng thi đúng giờ.

98 - Khác với thi trắc nghiệm trên giấy, trắc nghiệm khách quan được tích hợp đề sẵn vào máy tính. Sinh viên chỉ mang theo giấy tờ cá nhân như thẻ sinh viên, chứng minh thư nhân dân (bắt buộc), giấy nháp, bút (nếu cần) để vào phòng thi. Phải chú ý ngồi đúng số thứ tự của mình và chỉ khởi động máy, kiểm tra tình trạng máy (màn hình nhìn rõ chữ, không bị nhòe, không bị mờ, thiết bị có đủ case, chuột và bàn phím) theo hướng dẫn của cán bộ coi thi.

- Khi đăng nhập vào hệ thống, sinh viên phải chú ý phím Caps Lock (tắt đi), phím Num Lock (bật lên) để gõ tên đăng nhập và mật khẩu cho chính xác. Nếu đăng nhập 3 lần mà không được, phải hỏi ngay cán bộ coi thi để có sự hỗ trợ kịp thời.

- Sau khi đăng nhập, hệ thống sẽ đưa ra danh sách mã lớp thi học phần TMĐT căn bản (trong ngày) và ca thi. Chú ý, nhớ mã lớp học phần và ca thi của mình để lựa chọn phòng chính xác.

- Trước khi click nút Bắt đầu làm bài, sinh viên cần đọc thật kỹ hướng dẫn bố cục đề thi, bảng trọng số (số lượng câu của từng phần, từng cấp độ). Khi nào thật sẵn sàng, sinh viên mới bắt đầu bài thi của mình. Chú ý, nếu chọn sai, sinh viên có thể chọn lại bằng cách click phương án khác. Mỗi sinh viên có một thời gian làm bài riêng, hiển thị ở góc trên bên phải màn hình (nhưng không quá thời gian của ca thi đó).

- Thời gian làm bài trắc nghiệm ngắn hơn so với tự luận.

Vì vậy, khi làm bài thi, sinh viên phải đọc nhanh các câu hỏi trắc nghiệm. Đọc hết toàn bộ từng câu hỏi và tất cả các chọn lựa của đáp án trước khi chọn câu trả lời. Câu nào thấy dễ và chắc chắn thì làm ngay, câu nào chưa rõ thì bỏ qua, làm câu khác, sau đó quay lại làm tiếp. Không nên phí thời gian cho một câu hỏi nào đó chưa hiểu rõ, hoặc quá khó. Nhớ ghi số thứ tự của câu đã bỏ qua vào giấy nháp để dễ nhận diện.

- Do không bị trừ điểm nếu thí sinh chọn câu sai, nên trước khi hết giờ thi, sinh viên cần chọn nhanh đáp án hợp lý nhất cho những câu chưa trả lời. Không nên để trống một câu

99 nào, phải trả lời tất cả các câu. Mỗi câu đều có điểm, cho nên bỏ câu nào là mất điểm câu đó. Với những câu hỏi không biết câu trả lời chính xác thì cũng nên đoán. Để có cơ hội giành điểm cao nhất, sinh viên phải chọn các phương án trả lời theo phương châm “thà tô nhầm còn hơn bỏ sót”.

- Sau khi click nút Nộp bài, điểm bài thi sẽ hiển thị trên màn hình. Sinh viên không được thao tác thêm trên máy tính, ngồi yên tại chỗ để cán bộ coi thi đi ghi điểm và cho sinh viên ký. Sau khi ký vào danh sách thi, sinh viên mới được phép “thoát ra” khỏi hệ thống và ra về.

- Ngoài ra, sinh viên nên tìm cách làm thêm thật nhiều bài thi trắc nghiệm. Có thể sử dụng tài liệu do thầy cô giới thiệu hoặc các tài liệu được cung cấp trên thị trường, trên internet để nhớ bài nhanh hơn và nâng cao kỹ năng làm bài. Điều quan trọng là thực hiện đều đặn hằng ngày để ghi nhận và tìm hiểu nguyên nhân những lỗi sai của mình.

Một phần của tài liệu Bài tập Thương mại điện tử (Trang 95 - 99)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(104 trang)