Đánh giá và lập báo cáo

Một phần của tài liệu GIÁO TRÌNH KIỂM TOÁN MÔI TRƯỜNG (Trang 22 - 27)

Dữ liệu kiểm toán được đánh giá trong suốt 2 giai đoạn tại hiện trường. Lần đầu dưới dạng thông tin phản hồi trực tiếp khi KTV thu thập thông tin. Lần sau khi nhóm kiểm toán thực hiện phân tích toàn diện sau khi đã hoàn thành các cuộc thanh kiểm tra, phỏng vấn và xem xét hồ sơ. Việc đánh giá dữ liệu cũng là một tìm hiểu cho việc lập báo cáo bằng văn bản sau này trước khi nhóm kiểm toán rời khỏi hiện trường.

Thông tin phản hồi trực tiếp: khi kiểm toán viên thu thập thông tin tại hiện trường, việc quan trọng không kém là phải đưa ra thông tin phản hồi cho người đại diện đơn vị được kiểm toán. Lưu ý rằng không được đưa ra kết luận lúc này, vì như thế là vội vàng và khó đảm bảo tính chính xác.

Giấy tờ sổ sách: đánh giá dữ liệu thu thập được, một phần của công tác kiểm toán, là nổ lực quan trọng và phúc tạp mà cần phải được hoàn thiện trong thời gian còn ở ngoài hiện trường.

Đánh giá toàn diện: là bảng phân tích tổng hợp tất cả các thông tin được thu thập từ tất cả các thành viên của nhóm kiểm toán.

Tiếp xúc lần cuối cùng trước khi rời khỏi hiện trường: với những nhân vật chủ chốt tại nhà máy. Một trong những khó khăn thông thường là chỉ xem xét những thiếu sót và thất bại để hoàn chỉnh mỗi bước trong quá trình kiểm toán. Để hạn chế điều này, nhóm kiểm toán nên chuẩn bị một bản thảo luận với đầy đủ tất cả các điểm cần phải được xem xét trước khi rời khỏi hiện trường.

Báo cáo kiểm toán: cần phải đảm bảo rõ ràng và dễ hiểu, đánh giá tách biệt giữa các yếu tố bất ngờ và khía cạnh môi trường mãn tính, liệt kê các sự thật đã tìm thấy, không đưa ra những kết luận không chính xác hoặc bất ổn, nên chi tiết và chính xác bản chất của các vấn đề môi trường, không được đại khái chung chung, đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường phù hợp. Tuy nhiên lưu ý rằng là không được vạch những kết luận có tính bắt buộc, đặc biệt là không được kết tội đơn vị được kiểm toán trong trường hợp có vi phạm hoặc sai sót.

Vạch ra kế hoạch hành động.

2.3. Những vấn đề tiêu biểu trong quá trình kiểm toán

Khi thực hiện công tác Kiểm Toán Môi Trường, kiểm toán cần phải quan tâm đến những dẫu hiệu khác nhau đối với mỗi ngành sản xuất. Sau đây là một số điểm cần lưu ý cho một số ngành cụ thể như sau:

Quản lý PCB (PolyChlorinated Biphenyls)

• Không biết PCB có trong hệ thống truyền nhiệt hay cấp thoát nước.

• Máy sản xuất PCB không được kiểm tra định kỳ hàng quý và báo cáo kiểm tra không rõ ràng.

• Sử dụng máy sản xuất PCB không đăng ký với cơ quan PCCC địa phương.

• Không dán nhãn máy sản xuất PCB không độc hay PCB có thể gây ô nhiễm.

• Chứa các vật liệu dễ cháy gần khu vực sản xuất PCB.

• Nhà máy lưu trữ PCB không còn sử dụng mà không được thiết kế hợp lý, thiếu bồn chứa phụ, sàn nhà kho bị nứt và PCB bị rò rỉ mà không có vật liệu chống thấm thích hợp.

• Thiết bị có thể bị ô nhiễm PCB và bồn chứa PCB không còn sử dụng, có thể tích lớn, lưu trữ bên ngoài khu vực kho lưu trữ PCB, không có bệ đỡ và không được thanh kiểm tra hàng tuần.

• PCB dạng lỏng không được lưu trữ trong những bồn chứa đúng tiêu chuẩn.

• Quên báo cáo hàng năm về việc sản xuất và sử dụng PCB hoặc có nhưng đúng với quy định chung.

• Không có báo cáo chôn lấp hoặc bảng kê khai vận chuyển PCB đi đâu, hoặc có mà không hoàn chỉnh.

Thải bỏ nước thải

• Giấy phép của các cơ quan chức năng đã hết hạn, hay đơn xin cấp lại giấy phép không nộp kịp trong vòng sáu tháng trước ngày hết hạn.

• Không tuân thủ các thủ tục lấy mẫu như quy định.

• Thiết bị quan trắc không được kiểm tra thường xuyên.

• Báo cáo quan trắc chất thải không nộp đúng hạn.

• Thỉnh thoảng lượng nước thải vượt quá mức giới hạn cho phép.

• Nước thải chảy sai tuyến nhưng không được báo ngay lên các cơ quan chức năng để tìm biện pháp giải quyết.

• Những thay đổi trong quá trình vận hành nhà máy hay thải bỏ không được phản ánh trong giấy phép điều chỉnh hay đổi mới hoạt động.

• Thiết bị kiểm tra quá tồi hay hoạt động không hiệu quả.

• Phương pháp xử lý nước thải ở những khu vực thải tập trung vào đường cống, bồn chứa tự hoại hay dòng thải không được cấp giấy phép.

• Chất nguy hại bị đổ ở các kho lưu trữ thải vào đường cống hay dòng thải.

• Thải bỏ vào các công trình xử lý công cộng có chứa các chất dễ cháy nổ, chất ăn mòn hay đóng cặn làm cản trở dòng chảy.

• Bồn chứa tự hoại, các dụng cụ lọc hay các khu vực xử lý nước thải tại hiện trường không được cấp giấy phép.

• Thải bỏ nước mưa dã bị ô nhiễm vào trong hệ thống thoát nước chung chưa được cấp giấp phép.

• Tiến trình phân tích chất lượng không được thực hiện trong phòng thí nghiệm hay phòng thí nghiệm hoạt động không hợp pháp.

Khí thải

• Những địa điểm khí thải không xác định rõ ràng, kể cả các ống khói, lỗ thông khí, quạt tường, cửa thoát khí, lò thiêu,…..

• Bản kiểm kê những loại khí thải không được lập sẵn hay không hoàn chỉnh.

• Nguồn khí thải không được cấp phép.

• Hồ sơ kiểm tra việc thực hiện không làm.

• Thiết bị quan trắc không có hay không được kiểm tra thường.

• Không lắp đặt hệ thống kiểm soát hơi áp suất ở những vị trí cần thiết.

• Việc điều chỉnh các nguồn khí thải không được báo cáo.

• Hệ thống báo động ô nhiễm không khí và kế hoạch ứng cứu khẩn cấp không được chuẩn bị sẵn hay không hoàn chỉnh.

• Lượng sulfur trong xăng dầu không phù hợp với mức giới hạn quy định dành cho đèn dầu, không cho giấy chứng nhận phân tích lượng sulfur.

• Bụi không bền tác động lên các khu vực lân cận.

• Những hoạt động phá hủy amiăng không báo cáo cho các cơ quan có thẩm quyền trước khi sự cố xảy ra.

• Lò thiêu vận hành không đúng theo yêu cầu về nhiệt độ và tỷ lệ nạp liệu.

Kiểm soát đổ tràn dầu mỡ

• Kế hoạch đối phó và kiểm soát ngăn ngừa đổ vỡ (SPCC) không có chữ ký của một kỹ sư chuyên môn.

• SPCC không được cập nhật trong vòng 3 năm trở lại đây và thiết bị lưu trữ xăng dầu trong nhà máy không cố định.

• Không tập huấn cho nhân viên để ứng phó với sự cố đổ tràn.

• Thiếu thiết bị và vật liệu thích hợp để kiểm soát đổ tràn.

• Thiếu một số bước chuyên biệt để quản lý xăng dầu đang được sử dụng.

• Các biện pháp chính để ngăn chặn chảy tràn (như xây đê bao,…) không được thiết lập xung quanh khu vực chứa dầu.

• Các kết cấu ngăn chặn phụ bị vỡ, xuất hiện các rãnh hay không tương xứng với lượng dầu hiện có.

• Các van của công trình ngăn chặn phụ ở trạng thái mở.

• Không tiến hànhg đánh giá và sắp xếp lại lượng nước mưa dồn vào các công trình ngăn chặn phụ.

• Không có thiết bị phân tách dầu và nước trước khi nước mưa đi vào cống thoát hay dòng thải.

• Thiết bị phân tách dầu và nước không được duy tu và súc rửa theo định kỳ để hoạt động có hiệu quả hơn.

• Những bồn chứa trên mặt đất vượt quá thể tích quy định mà không được thanh kiểm tra rò rỉ thường xuyên theo định kỳ.

Phát sinh chất thải nguy hại

• Kế hoạch phân tích chất thải không phù hợp, dẫn đến việc quản lý chất thải nguy hại như chất thải không nguy hại.

• Bồn chứa chất thải nguy hại không được hoặc được dán nhãn không đúng quy cách và để hở, có thể bốc hơi và phát tán vào môi trường xung quanh.

• Chất thải được kê khai không hoàn chỉnh, mất hồ sơ lưu hay các loại chứng từ về việc chôn lấp chất thải.

• Những bồn chứa chất nguy hại được lưu trữ hơn 90 ngày.

• Thông tin về ngày bắt đầu tích lũy chất thải và những chi tiết cần thiết khác dán trên bồn chứa bị thất lạc hay không đầy đủ.

• Nắp phểu trên các bồn chứa chất nguy hại được mở trống không đậy lại.

• Những bồn chứa chất lỏng dễ cháy không được cột, giữ chặt xuống đất.

• Những điểm để dồn chất thải không được bảo quản, không có sự ngăn cách thích hợp đối với những chất thải không tương thích khác, khoảng cách giữa những lối đi chật hẹp, chiều cao không đảm bảo an toàn.

• Người quản lý các khu vực tích lũy chất nguy hại không được phân công chính thức và đào tạo chính quy.

• Báo cáo kiểm tra hàng tuần về điểm tích lũy chất thải nguy hại không sẵn sàng, hoặc làm không đầy đủ, hoặc bị thất lạc.

• Các thiết bị và vật liệu ứng cứu khẩn cấp tại nơi chứa chất nguy hại không có sẵn hoặc không đạt tiêu chuẩn an toàn.

• Kế hoạch đối phó với tình huống bất ngờ không được lập sẵn hoặc không duy trì tại các điểm tích lũy chất nguy hại.

Quyền lợi cộng đồng

• Không lập báo cáo về tình trạng kho lưu trữ, các loại hóa chất lưu trữ cho chính phủ, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng có liên quan.

• Hàng năm không lập báo cáo hóa chất nguy hại tồn kho.

• Các mẫu báo cáo xuất kho các hóa chất độc hại không được nộp cho cơ quan chức năng vào trước ngày quy định.

Sức khỏe công nhân và những thông tin về chất nguy hại

• Ranh giới ô nhiễm những loại hóa chất nguy hại tại hiện trường không được quản lý tốt bằng hồ sơ văn bản đối với mọi công nhân có thể chịu tác động.

• Không có hồ sơ lưu trữ về mức độ ô nhiễm tiếng ồn.

• Việc đo lường tiếng ồn theo định kỳ không được làm thường xuyên.

• Chương trình bảo vệ hệ hô hấp không được hoạch định bằng văn bản.

• Bình dưỡng khí dùng cấp cứu không được bảo quản, kiểm tra hay lưu trữ một cách đúng đắn.

• Nhãn cảnh báo, nhãn xác định không được dán trên bồn chứa chất nguy hại ở nơi lưu trữ.

• Không có hệ thống kiểm tra mức tác động lên từng cá nhân do ô nhiễm tia phóng xạ.

• Bảng kế hoạch thông tin về chất nguy hại không đầy đủ hoặc đã quá hạn, không bổ sung kịp thời những thay đổi trong hoạt động, sử dụng và quản lý.

• Không đưa ra kết quả khám sức khỏe công nhân đúng thời hạn.

• Bảng dữ liệu an toàn không đầy đủ các loại hóa chất hiện hữu và hồ sơ lưu các bảng này không được bảo quản ở những nơi mà công nhân có thể tham khảo dễ dàng.

• Không thực hiện việc huấn luyện cho công nhân thông tin về chất nguy hại.

An toàn cho người lao động

• Hồ sơ và giấy chứng nhận đối với những người đã được huấn luyện sơ cấp cứu không có sẵn khi kiểm tra.

• Hệ thống thông gió không được bảo dưỡng thường xuyên, tốc độ lưu thông khí không được kiểm tra đều, hệ thống lọc bụi cũng không được thay đổi theo quy định.

• Đồ che chắn các loại động cơ đã bị mất hoặc có mà không phù hợp.

• Cần cẩu hoạt động trên cao và các thiết bị nâng không được dán nhãn và quy định trọng lượng làm việc an toàn.

Nước uống

• Giấy phép sử dụng nước chưa được cấp hoặc nguồn nước sử dụng không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh như là nguồn cấp nước uống.

• Nhân viên vận hành nhà máy xử lý nước không được đào tạo bài bản, hoặc không có giấy chứng nhận khả năng làm việc tương ứng.

• Tất cả các thông số yêu cầu đối với nước uống (ví dụ nồng độ nitrát, flo, vi khuẩn sinh học, bùn, chất phóng xạ, độ pH…) không được quản lý và đo lường định kỳ.

• Hệ thống bình chứa nước uống không được kiểm tra và vệ sinh thường xuyên (lưu ý tình trạng một số công ty thường lấy mẫu nước uống kiểm tra trong bình nước, mà không quan tâm đến thiết bị nóng – lạnh hoặc các vật dụng chứa đựng khác) .

• Những gì vượt quá tiêu chuẩn nước uống tối thiểu không được báo lên cơ quan chức năng trong thời gian quy định (của luật pháp hoặc theo quy định nội bộ công ty).

Một phần của tài liệu GIÁO TRÌNH KIỂM TOÁN MÔI TRƯỜNG (Trang 22 - 27)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(57 trang)