KIỂM TOÁN GIẢM THIỂU CHẤT THẢI
4.2. Nội dung và tiến trình kiểm toán giảm thiểu chất thải
Một cách tổng quát, chương trình kiểm toán chất thải được chia ra làm 6 giai đoạn và hợp thành một số bước như sau:
Giai đoạn 1: Tìm hiểu các công đoạn sản xuất
Trong giai đoạn này, công việc của nhóm kiểm toán là đi vào nhà máy và xây dựng chương trình điều tra hợp lý tất cả các công đoạn sản xuất và mối tương quan giữa chúng. Ở giai đoạn này, nhóm kiểm toán cần có sự giúp đỡ của nhân viên nhà máy, những người hiểu biết các hoạt động hằng ngày của nhà máy.
Bước 1: Liệt kê và mô tả các công đoạn sản xuất chính
Nhà máy bao gồm nhiều công đoạn sản xuất, do đó việc đầu tiên trong kiểm toán chất thải là xác định và liệt kê tất cả các công đoạn sản xuất với những thông tin có liên quan. Khái niệm công đoạn sản xuất trong kiểm toán được hiểu như là một khu vực của nhà máy hoặc một phần thiết bị mà ở đó nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra có trạng thái, tính chất hoặc thành phần khác.
Việc khảo sát toàn bộ nhà máy sẽ giúp cho nhóm kiểm toán quyết định mô tả từng công đoạn sản xuất như thế nào. Trong quá trình khảo sát, thường cần có một bản vẽ phác thảo bao gồm đầy đủ các công đoạn sản xuất, cống thoát nước thải, nước mưa, hệ thống thông gió, hệ thống vận chuyển nguyên vật liệu và sản phẩm… Sơ đồ phác thảo này sẽ giúp cho nhóm kiểm toán không quên các dữ liệu đầu vào và đầu ra quan trọng. Trong khi đi khảo sát, kiểm toán viên cần đặt câu hỏi với quản đốc và công nhân vận hành về quá trình sản xuất, các hoạt động có phát sinh chất thải và các biện pháp quản lý chất thải hiện đang áp dụng.
Trong quá trình khảo sát thực địa, nhóm kiểm toán có thể phát hiện và ghi nhận những thiếu sót hay sai lầm trong công tác quản lý nguyên vật liệu hoặc sản phẩm,những thao tác không đúng quy định dẫn đến việc phát sinh chất thải hoặc phát tán chất thải ra ngoài môi trường, những rủi ro tiềm tàng cần được đề cập đến trước khi kết thúc chương trình kiểm toán.
Có thể bắt đầu kiểm toán từ những công đoạn đơn giản. Mức độ chi tiết thì tùy thuộc vào từng kiểm toán viên, có thể là nhà máy, một phân xưởng chế biến, một khu vực, một phần của thiết bị hoặc cả một quy trình sản xuất. Các thông tin thu thập được có thể tóm tắt vào các bảng như sau:
Bảng 1: Liệt kê các công đoạn sản xuất
Công đoạn Chức năng Số lượng
A B
Ở mỗi công đoạn sản xuất, cần phải đặt tên rõ ràng để tiện ghi chép và theo dõi.
Mức độ chi tiết của các thông tin tùy thuộc vào khả năng thu thập và phỏng vấn của kiểm toán viên. Thường thì nên chú ý vào những khu vực chắc chắn có vấn đề khi bắt đầu kiểm toán. Tuy nhiên, trong trường hợp cần thu hẹp phạm vi kiểm toán thì phải đảm bảo rằng việc thu hẹp này không ảnh hưởng đến kết quả kiểm toán ở các quy trình có liên quan.
Bước 2: Lập sơ đồ công nghệ sản xuất
Để lập sơ đồ khối quy trình công nghệ sản xuất cho nhà máy, người ta liên kết các công đoạn sản xuất riêng biệt lại với nhau thành một chuỗi liên tục, trong đó có thể bao gồm nhiều hoạt động gián đoạn. Nếu công nghệ sản xuất quá phức tạp thì không cần cố gắng đưa tất cả các công đoạn vào sơ đồ mà có thể lập sơ đồ công nghệ chung mô tả những khu vực chính trước rồi sau đó mới xây dựng những sơ đồ công nghệ sản xuất chi tiết riêng cho từng khu vực sản xuất.
Một trong những nguyên lý cơ bản và được sử dụng rộng rãi trong công nghệ hóa học là nguyên lý cân bằng vật chất, trong đó tổng khối lượng đầu vào và đầu ra của một công đoạn sản xuất phải bằng nhau. Nguyên lý này được sử dụng trong phần kiểm toán chất thải (giai đoạn 4), nhưng cũng cần được quan tâm từ giai đoạn này. Với các thông tin về đầu vào và đầu ra, các yếu tố và số liệu thực hiện cân bằng vật chất có thể thu thập đối với từng thiết bị sản xuất, một phần của quy trình sản xuất, một quy trình hoàn chỉnh hoặc toàn bộ nhà máy. Mức độ chi tiết của số liệu tùy phạm vi thu thập số liệu và bắt đầu với các khu vực có vấn đề.
Tuy nhiên, nếu công tác kiểm toán càng được thực hiện đơn giản trên một ít chi tiết thì càng nhiều thông tin bị mất hoặc bị che giấu. Do đó việc quyết định mức độ chi tiết và các khu vực quan tâm là rất quan trọng ở giai đoạn ban đầu.
Giai đoạn 2: Xác định lượng nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất
Nguyên liệu đầu vào của một quá trình sản xuất phải được xem xét đầy đủ trên tất cả các mặt: khối lượng nhập vào, (của cả nguyên liệu thô, hóa chất và năng lượng), lượng tồn trữ và thất thoát ở từng công đoạn, lượng nguyên vật liệu được sử dụng và mức độ tái sử dụng chất thải.
Bước 3: Xác định khối lượng nguyên vật liệu đầu vào
Sau khi tất cả các công đoạn sản xuất đã được định rõ và các mối tương quan đã được thiết lập, nhóm kiểm toán bắt đầu tính toán các dòng vật chất cho mỗi công đoạn, càng chi tiết càng tốt. Các nguyên vật liệu đầu vào bao gồm nguyên liệu thô, hóa chất, nước sử dụng, nhiệt năng (lò hơi) và điện năng sử dụng. Công việc này thường được bắt đầu bằng việc kiểm tra các hồ sơ mua nguyên liệu hàng năm của công ty.
Để xác định số lượng nguyên liệu sử dụng cho từng công đoạn sản xuất, nhóm kiểm toán có thể khảo sát đo đạc nếu không thể thu nhập được các thông tin chính xác về tỷ lệ tiêu thụ nguyên liệu từ các hồ sơ lưu trữ. Việc này cần được tiến hành trong một thời gian đủ dài nhằm hạn chế bớt các dao động bất thường và sau đó ngoại suy cho những khoảng thời gian khác. Lưu ý rằng công tác đo đạc định lượng nguyên liệu đầu vào cần thực hiện một cách chi tiết và kỹ lưỡng để đánh giá chính xác các cơ hội giảm chất thải.
Các dữ liệu nguyên liệu đầu vào có thể đươc ghi chung trên sơ đồ công nghệ hoặc lập thành bảng như sau:
Bảng 2: Sử dụng nguyên liệu thô hằng năm.
Công đoạn Nước
(m3/năm)
Nguyên vật liệu A (tấn/năm)
Nguyên vật liệu B (tấn/năm)
Nguyên vật liệu C (tấn/năm) A
B C -
Tổng khối lượng nguyên liệu
Những cuộc thảo luận giữa kiểm toán viên và công nhân trong nhà máy có thể mang lại những thông tin có ích khi tìm hiểu những hoạt động trong quá khứ, trong hiện tại hoạt động như thế nào và tại sao. Hơn nữa, kiểm toán viên cần tìm hiểu về các công đoạn sản xuất khác nhau, việc đặt câu hỏi và dựa vào câu trả lời có thể nảy sinh những ý tưởng cải tiến.
Mặc dù nguyên liệu đầu vào được xử lý riêng biệt so với sản phẩm đầu ra, nhưng thực chất hai loại này xuất hiện đồng thời khi nhà máy hoạt động liêu tục. Do vậy, cần phải đo đạc đầu ra ở từng công đoạn đồng thời với nguyên liệu đầu vào trong suốt thời gian hoạt động ở những công đoạn sản xuất chính. Điều này có nghĩa là các bước đưa ra trong giai đoạn 3 cần được thực hiện cùng thời gian với các bước trong giai đoạn 2.
Bước 4: Điều tra số lượng tồn trữ và thất thoát ở các công đoạn.
Trên thực tế, một khối lượng lớn chất thải có thể phát sinh trước khi quá trình sản xuất thực sự bắt đầu do thất thoát trong khi tồn trữ hoặc bốc xếp nguyên liệu. Khi tính toán, lượng thất thoát này có thể được xác định từ sự sai biệt giữa tổng lượng nguyên liệu mua vào và tổng lượng được sử dụng trong sản xuất. Ngoài ra, một bộ phận nguyên vật liệu khác chưa được sử dụng hết trong kỳ sản xuất và còn tồn kho cũng cần phải được quan tâm.
Bảng 3: Tồn trữ nguyên vật liệu và thất thoát
Loại NVL Số lượng mua hàng năm
Số lượng sử dụng trong sản xuất/năm
Lượng
tồn trữ Thời gian
tồn trữ Ước tính thất thoát hàng năm NVL1
NVL2
…….
Kiểm toán viên có nhiệm vụ phải ghi chép lại các số liệu và vấn đề có liêu quan đến việc tồn trữ nguyên vật liệu và thất thoát trong thực tế (như thất thoát do bốc hơi, vương vãi, rò rỉ từ các bồn tồn trữ ngầm, do xả hơi từ các bồn có áp suất, sự nhiễm bẩn
của các nguyên vật liệu đến mức phải thải bỏ,...). Việc mua nguyên vật liệu cần được xem xét lại nếu như tỷ lệ nguyên vật liệu bị hư hỏng cao.
Bước 5: Xem xét việc sử dụng nguyên vật liệu
Một loại nguyên vật liệu có thể được sử dụng cho nhiều công đoạn trong cùng quá trình sản xuất. Do vậy, khi ghi chép khối lượng nguyên vật liệu sử dụng vào sơ đồ công nghệ cần chi tiết ở từng công đoạn, hoặc lập thành bảng.
Trong các thành phần đầu vào, nước là một loại nguyên liệu cơ bản, phổ biến và được sử dụng với khối lượng lớn trong hầu hết tất cả các hoạt động CBTP.
Ví dụ: Xem xét việc sử dụng nước tại một nhà máy như sau:
Bảng 4: Sử dụng nước Công đoạn sử
dụng, tái sử dụng
Rửa
Sử dụng, tái sử dụng
Lò hơi
Sử dụng, tái sử dụng
Làm lạnh Sử dụng, tái sử dụng
Khác
Sử dụng, tái sử dụng
Công đoạn A Công đoạn B Công đoạn Chú thích:
* Sử dụng: Số lượng nước sử dụng trong từng công đoạn
* Tái sử dụng: Số lượng nước tuần hoàn
* Tất cả các số đo trong đơn vị tiêu chuẩn: m3/năm.
Nước không được sử dụng trực tiếp trong các hoạt động sản xuất (nước thải sinh hoạt) và không bị nhiễm bẫn trong quá trình sản xuất có thể bỏ ra ngoài kiểm toán, tuy nhiên việc sử dụng nước quá mức trong trường hợp này cũng có thể gây ảnh hưởng cho tình trạng quá tải của hệ thống xử lý nước thải và thoát nước.
Việc giảm và kiểm soát chặt chẽ lượng nước sử dụng sẽ góp phần làm giảm khối lượng chất thải cần được xử lý, do đó tiết kiệm các chi phí. Đặc biệt, làm tốt công tác quản lý cũng có thể giảm lượng nước sử dụng và giảm khối lượng nước thải cần xử lý (giảm số lần vệ sinh nhà xưởng trong ngày, tái sử dụng nước làm mát để dội rửa…).
Lượng nước sử dụng được tính toán thông qua đồng hồ nước hoặc đo đạc ngay tại điểm sử dụng. Sử dụng ít nước, số tiền tiết kiệm được còn lớn hơn là tiền nước phải trả cho đơn vị cấp nước vì giảm chi phí xử lý và giúp cho hệ thông xử lý nước thải có thể hoạt động hiệu quả hơn và yêu cầu qui mô nhỏ hơn.
Bước 6: Xác định mức độ tái sử dụng chất thải
Một số chất thải được tái sử dụng trực tiếp trong sản xuất, nhưng một số khác có thể đòi hỏi phải sơ chế hoặc thay đổi nào đó mới có thể tái sử dụng như là nguyên liệu.
Ngoài ra, một số chất thải có thể được sử dụng tuần hoàn và bán cho các ngành công nghiệp khác. Kiểm toán viên cần phải định lượng chất thải được tái sử dụng hàng năm như là việc sản xuất nguyên liệu và ghi lại số lượng này vào sơ đồ công nghệ hoặc đưa vào bảng như sau:
Bảng 5: Số lượng chất thải tái sử dụng hàng năm
Công đoạn Loại chất thải Vị trí và số lượng chất thải tái sử dụng (m3/năm)
Ghi chú Công đoạn (A)
Công đoạn (B)
Việc tách riêng từng loại chất thải ngay từ nguồn thải sẽ tạo điều kiện cho việc tái sử dụng tốt hơn. Chất thải hỗn hợp thường gây khó khăn cho việc xử lý, đôi khi làm cho chất thải không nguy hại trở thành nguy hại. Ví dụ sự pha lẫn dòng nước thải không nguy hại với dòng nước thải nguy hại đôi khi sẽ tạo ra dòng nước thải có tính nguy hại cao hơn.
Ở đây, cũng cần phải xem xét phương pháp tồn trữ và thu gom chất thải nói chung để quyết định việc tách riêng nước thải là có thể thực hiện được hay không. Việc làm này rất có ích cho sản xuất và công tác xử lý chất thải của nhà máy.
Giai đoạn 3: Định hướng đầu ra của quá trình sản xuất Bước 7: Xác định lượng sản phẩm sản xuất ra theo thời gian
Sản phần đầu ra có thể bao gồm cả chính phẩm, sản phẩm sơ chế hoặc bán thành phẩm, phụ phẩm, chất thải được tái sử dụng và chất thải cần loại bỏ. Sản phẩm đầu ra cuối cùng có thể được xác định từ hồ sơ của công ty, nhưng cũng nên được đo đạc, lấy mẫu và phân tích ngay tại khu vực khảo sát.
Bảng 6: Đầu ra của công đoạn.
Công đoạn Đầu ra tại từng công đoạn Sản
phẩm A Sản phẩm
B Chất thải 1
Tổng số Tái sử dụng Lưu kho Loại bỏ Công đoạn A
Công đoạn B Công đoạn C Công đoạn D
……
Bước 8: Tính toán các dòng chất thải
Các chất ô nhiễm được xác định tùy thuộc phạm vi kiểm toán. Ví dụ, nếu kiểm toán công ty chế biến tinh bột sắn (khoai mì) thì chất thải cần được quan tâm phải kể đến bã mì và tỷ lệ COD trong nước thải để xác định xem mất bao nhiêu tiền cho phí xả thải hoặc chở đi đổ bỏ. Một chất được coi là ô nhiễm nếu được xả ra ở nồng độ cao hơn quy định cho phép. Nếu nhà máy không có khả năng phân tích, thì phải hợp đồng với các phòng thí nghiệm có uy tín để thực hiện.
Cần phải lập kế hoạch lấy mẫu và cố gắng lấy mẫu trên toàn phạm vi nhà máy khi đang hoạt động, tức là cả khi nhà máy hoạt động hết công suất, khi khởi động, khi ngưng sản xuất và khi làm vệ sinh. Việc thu thập số liệu cần phải thực hiện cho đến khi đủ thông tin cho phép đánh giá các điều kiện hiện trạng về hoạt động, môi trường của nhà máy.
Cần lấy mẫu tổng hợp cho các nguồn nước thải (tức là thu mẫu thể tích nhỏ, chẳng hạn 100ml, hàng giờ đối với một chu trình sản xuất, chẳng hạn 10 giờ, để có được mẫu 1.000ml). Mẫu phải tổng hợp và đảm bảo đại diện cho tính chất dòng thải trong khoảng thời gian đó. Đối với các hoạt động sản xuất từng mẻ và xả thải định kỳ thì hoạt động lấy mẫu đại diện dễ dàng hơn, tuy nhiên vẫn cần phải lấy mẫu định kỳ của nhiều mẻ để có thể xác định được những biến động của quá trình sản xuất.
Khối lượng nước thải phát sinh từ mỗi công đoạn (xả vào cống, tồn trữ, tái sử dụng, bốc hơi vào không khí và xử lý ở nơi khác) có thể ước tính gần đúng từ lượng nước cấp vào nhà máy. Kiểm toán viên cần ghi chép số lượng về các loại nước thải và nồng độ các chất ô nhiễm vào sơ đồ hoặc vào văn bảng sau:
Bảng 7: Tải lượng nước thải
Nguồn nước thải
Nguồn tiếp nhận
Cống Nước mưa Nước mặt Tái sử
dụng Tồn trữ
Tổng tải lượng nước thải Công đoạn A
Công đoạn B
…..
Việc đo lưu lượng nước thải có thể tương đối đơn giản nếu hệ thống cấp thoát nước của nhà máy được đặt lưu lượng kế. Tuy nhiên, phải kiểm tra xem các đồng hồ đo có chính xác không. Việc hiệu chuẩn các lưu lượng kế hay thiết bị đo phải được thực hiện thường xuyên để duy trì độ chính xác. Nếu không được đặt đồng hồ thì phải đo một cách thủ công hoặc phân tích tỷ lệ và thời gian bơm nước. Các số liệu cần đo đạc ghi lại trong một thời gian đủ dài và cập nhật thường xuyên. Một yếu tố rất quan trọng để xác định vị trí, loại và kích thước cho việc thoát nước thải nhưng thường bị bỏ qua là các điểm thải.
Do đó, kiểm toán viên cũng cần xác định nguồn tiếp nhận nước thải của nhà máy (hệ thống cống hay vào nguồn nước mặt) dựa vào bản vẽ thoát nước liên quan đến các công
đoạn sản xuất. Cách đánh giá này thường dẫn đến những phát hiện quan trọng về việc bao nhiêu chất thải không được quản lý một cách phù hợp.
Bước 9: Lập hồ sơ các chất thải được tồn trữ và chuyên chở đến nơi xử lý
Chất thải được chở đi xử lý hoặc đổ bỏ phải được ghi lại từ số lượng, nồng độ các chất ô nhiễm (CON) vào sơ đồ công nghệ hoặc vào bảng sau:
Bảng 8: Khối lượng chất thải được tồn trữ hoặc đưa đi xử lý.
Chất thải
Chất thải có đăng ký Chất thải không đăng ký Số lượng Nồng độ
CON 1
Nồng độ
CON 2 Số lượng Nồng độ CON 1
Nồng độ CON 2 Chất thải A
Chất thải B
……
Ở đây có thể sử dụng các số liệu thứ cấp từ cơ quan quản lý môi trường, nếu chất thải được xác định như là một “chất thải công nghiệp đăng ký” hoặc một “chất thải nguy hại”. Nhà nước cần thúc đẩy mạnh việc thực hiện triệt để các quy định về quản lý chất thải nguy hại để tất cả các đơn vị sản xuất, kinh doanh và dịch vụ phải đăng ký với cơ quan quản lý môi trường về loại, số lượng chất thải công nghiệp và chất nguy hại do hoạt động sản xuất gây ra. Khi chất thải được chuyên chở ra khỏi nhà máy phải có biên bản rõ ràng theo đúng quy định cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, những biên bản này được lưu trong hồ sơ nhà máy và có thể giúp cho kiểm toán viên tính số lượng chất nguy hại phát sinh.
Trong tổng khối lượng chất thải, cần phải xem có các loại chất thải nguy hại và không nguy hại nào thu gom chung và trộn lẫn với nhau không bằng cách xem xét danh mục chất thải nguy hại và hồ sơ lưu từ các hợp đồng kinh tế vận chuyển chất thải. Nếu có, phải lấy mẫu chất thải và tiến hành phân tích để xác định thành phần từng loại chất thải trong hỗn hợp và tính tương thích giữa các loại chất thải.
Giai đoạn 4: Lập cân bằng vật chất và đánh giá các nguồn thải
Sau khi đã có đầy đủ đầu vào và đầu ra của một quy trình công nghệ sản xuất, giai đoạn tiếp theo là so sánh hoặc tính toán chênh lệch giữa số lượng đầu vào với số lượng đầu ra. Như đã trình bày ở phần trước, khối lượng toàn bộ vật chất đi vào hệ thống phải bằng khối lượng toàn bộ chất thải đi ra khỏi hệ thống. Nhưng, trên thực tế hầu như không thể nào đạt được một cân bằng hoàn chỉnh. Tùy vào quan điểm của từng cơ quan quản lý môi trường hoặc đơn vị kiểm toán, thông thường một cân bằng chênh lệch ít hơn 10%
(tức là đầu vào/đầu ra x 100 = 90 – 110% có thể được coi là đạt yêu cầu).
Xác định cân bằng vật chất được sử dụng rất có hiệu quả trong việc hiệu chỉnh những thông tin đầu ra và đầu vào tại các khu vực mà ở đó còn thiếu thông tin hoặc chưa chính xác. Ví dụ, nếu tổng lượng đầu vào sản xuất đối với nguyên liệu X là 100kg, nhưng đầu ra tính được chỉ có 50kg là do các dữ liệu đầu ra hoặc đầu vào là không chính xác