1. Giống nhau
- Về cơ cấu tổ chức: Giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Liên bang Nga có sự tương đồng về cơ cấu tổ chức.
+ Thành phần Chính phủ đều Có Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng giúp việc cho Thủ tướng Chính phủ.
+ Số lượng các Bộ, tên gọi cũng có sự tương đồng.
+ Quy định và quy trình bổ nhiệm các thành viên Chính phủ cũng gần như có sự tương đồng.
+ Về trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Các Bộ trưởng cũng có sự tương đồng.
- Về nhiệm vụ, quyền hạn: Có sự giống nhau trong nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ đối với việc quản lý các mặt đời sống KT – XH của đất nước.
2. Khác nhau
a. Về cơ cấu tổ chức
- Ở Việt Nam có thêm một số các cơ quan ngang Bộ, bao gồm:
+ Văn phòng Chính phủ + Thanh tra Chính phủ + Uỷ ban dân tộc
+ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Những người đứng đầu các cơ quan này đều có chức danh tương đương Bộ trưởng. Ở Liên bang Nga không tổ chức theo cơ cấu như thế này, mà chỉ tổ chức các Bộ đơn thuần.
b. Quy định giải tán Chính phủ
- Đối với Liên bang Nga có quy định:
+ Chính phủ Liên bang Nga có thể tự từ chức và có thể được Tổng thống Liên bang Nga chấp thuận hoặc từ bỏ.
+ Tổng thống Liên bang Nga có thể quyết định việc cách chức Chính phủ Liên bang Nga.
- Còn ở Việt Nam việc bãi bỏ bỏ Bộ, cơ quan ngang Bộ thuộc thẩm quyền của Quốc hội (Khoản 9 điều 70, Hiến pháp CHXHCN Việt Nam năm 2013). Không có quy định giải tán Chính phủ.
c. Quy định bãi bỏ các văn bản vi phạm Hiến pháp
- Đối với các văn bản của Chính phủ trái với Hiến pháp, Luật, nghị quyết của Quốc hội thì sẽ bị Quốc hội bãi bỏ theo quy định tại khoản 10, điều 70, Hiến pháp CHXHCN Việt Nam năm 2013. (Thẩm quyền bãi bỏ thuộc Quốc hội nước CHXNCH Việt Nam).
- Còn đối với Chính phủ Liên bang Nga quy định “Trường hợp trái với Hiến pháp Liên bang Nga, các đạo luật liên bang, các sắc lệnh của Tổng thống Liên bang Nga, các Nghị quyết và chỉ thị của của Chính phủ Liên bang sẽ bị Tổng thống Liên bang Nga bãi bỏ”. Theo quy định tại khoản 3 Điều 115 Hiến pháp Liên bang Nga và Điều 32 Luật Chính phủ Liên bang Nga thì các nghị định của Chính phủ trái Hiến pháp Liên bang, các luật liên bang, các sắc lệnh của Tổng thống có thể bị Tổng thống hủy bỏ. Đồng thời, các nghị định của Chính phủ có thể bị kiện ra Toà án Hiến pháp Liên bang để xem xét tính hợp hiến theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 125 Hiến pháp Liên bang Nga, điểm a khoản 1 Điều 3 Luật Hiến pháp liên bang số 1- FKZ ngày 21/7/1994 “Về Toà án Hiến pháp Liên bang Nga” (Gọi tắt là Luật về Toà án Hiến pháp Liên bang Nga). Có thể thấy thẩm quyền bãi bỏ các văn bản trên thuộc về Tổng thống.
d. Hình thức hoạt động của Chính phủ
- Hình thức hoạt động của Chính phủ Việt Nam được quy định cụ thể tại Điều 44 Luật Tổ chức Chính phủ 2015, theo đó:
+ Chính phủ họp thường kỳ mỗi tháng một phiên hoặc họp bất thường theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, theo yêu cầu của Chủ tịch nước hoặc của ít nhất một phần ba tổng số thành viên Chính phủ.
+ Trong trường hợp Chính phủ không họp, Thủ tướng Chính phủ quyết định gửi lấy ý kiến các thành viên Chính phủ bằng văn bản.
+ Chính phủ họp theo yêu cầu của Chủ tịch nước để bàn về vấn đề mà Chủ tịch nước xét thấy cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước.
- Chính phủ Liên bang Nga đưa ra quyết định của mình tại các cuộc họp bằng đa số phiếu. Chúng được soạn thảo dưới dạng các mệnh lệnh và nghị định. Lệnh và nghị định được ban hành theo và tuân theo các Nguyên tắc cơ bản, nghị định của Tổng thống và các quy định của liên bang. Các lệnh và quyết định được chấp nhận được coi là ràng buộc trên lãnh thổ của Nga.
e. Về phiên họp của Chính phủ
- Phiên họp của Chính Phủ là hình thức hoạt động tập thể của Chính phủ.
Phiên họp là hình thức hoạt động quan trọng nhất của Chính phủ. Quy định cụ thể tại Luật Tổ chức chính phủ năm 2015.
• Điều 46. Phiên họp của Chính phủ
1. Phiên họp của Chính phủ chỉ được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên Chính phủ tham dự.
2. Nội dung phiên họp của Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ đề nghị và thông báo đến các thành viên Chính phủ.
3. Các quyết định của Chính phủ phải được quá nửa tổng số thành viên Chính phủ biểu quyết tán thành. Trong trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo ý kiến mà Thủ tướng Chính phủ đã biểu quyết.
• Điều 47. Thành phần mời tham dự phiên họp của Chính phủ
1. Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp của Chính phủ.
2. Chính phủ mời Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội tham dự phiên họp của Chính phủ khi bàn về việc thực hiện chính sách dân tộc. Khi ban hành quy định thực hiện chính sách dân tộc, Chính phủ phải lấy ý kiến của Hội đồng dân tộc.
3. Chính phủ mời Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội tham dự phiên họp của Chính phủ khi bàn các vấn đề có liên quan.
- Còn Chính phủ Liên bang Nga không có quy định cụ thể về phiên họp của Chính phủ.