TÁC DỤNG CỦA RƯỢU ĐỐI VỚI CƠ THỂ
3) Ảnh hưởng của rượu
a)Tại chỗ:
Diệt mầm bệnh: alcol có tác dụng diệt khuẩn khi đặt trên da nguyên vẹn.
Ethanol gây biến tính protein tại chỗ khi đặt trên da hay niêm mạc, làm co các cơ bị viêm, co mạch máu bị dãn và tạo các
protein ngưng kết bảo vệ ngăn sự thoát dịch rỉ quá nhiều.
Chất gây sung huyết da.
b)Toàn thân:
o Hệ thần kinh trung ương
o Hệ tim mạch
o Hệ tiêu hóa
o Hệ tiết niệu
o Hệ cơ
o Chức năng sinh dục
o Huyết học
Ethanol là 1 chất gây độc thần kinh Ức chế hệ thần kinh trung ương Có khả năng gây dung nạp chéo
Lạm dụng rượu mạn tính dẫn đến teo não do mất cả chất xám và chất trắng.
Thùy trán đặc biệt nhạy cảm đối với sự phá hủy do rượu. Những người nghiện rượu lâu thường bị tổn thương nhiều hơn những người mới nghiện.
Rượu còn gây giảm chuyển hóa ở não. Mức độ giảm chuyển hóa phụ thuộc vào thời gian sử
*Ảnh hưởng lên hệ thần kinh trung ương
Rượu ngấm vào mạch máu não “tiêu diệt” tế bào thần kinh ở vùng thuỳ trán - những vùng chết này biểu hiện qua 2 "hố" lớn. Vùng này có tác dụng định hướng và
Nồng độ trong máu:
0,05%: quá trình suy nghĩ và phán đoán trở nên lỏng lẻo và đôi khi bị ngưng trệ
0,1%: các cử động tự ý trở nên vụng về
0,2%: toàn bộ vùng vận động của não bị ức chế, những vùng chi phối hành vi cảm xúc cũng bị ảnh hưởng
0,3%: lú lẫn, hôn mê
0,4%-0,5%: rơi vào hôn mê
Ở những mức cao hơn,các trung tâm nguyên thủy điều khiển hô hấp và tuần hoàn bị ảnh hưởng và có thể dẫn đến tử vong
*Ảnh hưởng lên hệ tim mạch
_Uống rượu từ 20-30g /ngày là một trong những yếu tố bảo vệ tim mạch do làm tăng HDL máu _Uống rượu số lượng lớn mỗi ngày dẫn đến tăng tỉ lệ mắc bệnh không do mạch vành như suy tim, thiếu máu cơ tim, đột quỵ…
Tăng huyết áp cả tâm thu lẫn tâm trương Loạn nhịp tim
Bệnh cơ tim gây ra bởi tác dụng gây độc lên cơ tim của rượu
Đột quỵ do xuất huyết và thiếu máu mà các nguyên nhân có thể là:
Loạn nhịp tim kết hợp với thành lập cục máu đông
*Ảnh hưởng lên hệ tiêu hóa
Gan:
Gan nhiễm mỡ Xơ gan
Ung thư gan
Viêm thực quản
Viêm dạ dày
Ung thư dạ dày
Viêm tụy
Ung thư tụy
Giảm hấp thu dưỡng chất
như là vitamin và axit amin ở ruột
Men rượu "hạ thủ" men gan
* Hệ tiết niệu:
Rượu ức chế tiết vasopressin (hormon kháng lợi niệu) từ tuyến yên sau làm tăng sự đi tiểu.
Người cai rượu có sự tăng tiết vasopressin dẫn đến giữ được nước và giảm bớt tình trạng hạ natri máu.
*Hệ cơ
Uống rượu lượng nhiều, mạn tính, hàng ngày có liên quan đến giảm sức cơ.
*Hệ sinh dục
Sử dụng rượu vừa phải được tin rằng có thể làm tăng hoạt động tình dục.
Tuy nhiên sử dụng rượu quá mức và kéo dài thường dẫn đến sự suy yếu chức năng tình dục.
Uống rượu có thể dẫn đến bất lực ở nam do giảm chức năng
cương dương.
*Hệ huyết học
Thiếu máu hồng cầu to với tăng MCV do thiếu hụt vitamin nhất là vitamin B12.
Thiếu máu hồng cầu nhỏ có thể gây ra bởi thiếu sắt và mất máu mạn.
*Đối với phụ nữ có thai
Fetal Alcohol Spectrum Disorders (FASD)
1-Tác hại của rượu lên thai nhi.
Sau khi uống, chất rượu ethanol được chuyển thành acetaldehyde, gây độc hại lên tế bào thai nhi.
a-Tương tác với chất prostaglandin, một chất có liên hệ rất nhiều tới sự tăng trưởng và các chức năng của thai nhi.
b-Giảm lưu thông máu từ mẹ qua con, do đó chất dinh dưỡng, dưỡng khí giảm và tế bào thai nhi bị suy yếu, kém tăng
trưởng.
c-Ảnh hưởng tới sự hấp thụ kẽm và Mg hoặc làm thay đổi các enzymes, lượng kích thích tố như corticosteroid, kích thích tố tăng trưởng. Mỗi người, mỗi chủng tộc có những enzyme
khác nhau để phân hủy rượu, nên ảnh hưởng rượu thay đổi tùy người, tùy giống nòi.
d-Thay đổi cấu trúc của màng tế bào làm thay đổi hình dạng, kích thước, làm chậm tăng trưởng và chậm phân bào. Mọi tế bào đều bị ảnh hưởng, nhất là tế bào thần kinh vào giai đoạn đầu của thời kỳ có thai.
e-Giảm tổng hợp các chất dẫn truyền tín hiệu thần kinh khiến các hoạt động trí não bị ảnh hưởng rất nặng.
2-Tác hại lâu dài
Tùy theo độ tuổi của đứa trẻ, các tác hại có biểu hiện khác nhau.
Khi tuổi còn thơ, trẻ hay bồn chồn, dễ kích thích, ăn ngủ khó khăn, chậm lớn, chậm phát triển, cử động không nhịp nhàng.
Trước tuổi đi học, trẻ có biểu hiện hiếu động quá mức, kém tập trung, chậm hiểu, diễn tả ngôn ngữ khó khăn.
Vào tuổi đi học thì trẻ không thể tập trung sự chú ý, quá hoạt
động, không biết làm toán, học hỏi chậm, kém tiếp thu, hành động không tự chủ.
Khi lớn lên, trẻ kém trí nhớ, kém suy luận, nhận xét, không biết cách sử dụng tiền bạc, không biết hậu quả việc làm, có hành động dục tính không hợp lý, nghiện rượu thuốc cấm, có vấn đề trong hành vi, cư xử...
Hội chứng này là một tật vĩnh viễn không thể chữa trị dứt cũng như cơ thể trẻ không thể tự vượt qua khi lớn lên như một số bệnh tật khác. Lý do là vì tế bào thần kinh hư hỏng không phục hồi
được. Nhiều tế bào thần kinh không phát triển, không tăng
trưởng, bỏ trống, thiếu dây thần kinh nối kết nên các chức năng bị rối loạn.
Đây là một vấn đề quan trọng ảnh hưởng tới sức khỏe nạn nhân cũng như có nhiều hậu quả xấu cho cả gia đình xã hội
Khi người mẹ uống rượu vào tam cá nguyệt 1, lúc này hình dạng mặt của trẻ đang được hình thành.Vì vậy sẽ làm biến đổi gương mặt
Characteristic facial features in children of different
ethnicities with fetal alcohol spectrum disorders. (A) Child of Northern European descent. (B) Native American child.
(C) Black child. (D) Biracial child (white, black).
Characteristic features of a hand of a child with fetal
FSAD có thể phòng ngừa được nếu người mẹ kiêng uống rượu trong thai kỳ