4.1.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu
- Về tuổi của đối tượng nghiên cứu: Tuổi trung bình của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu là 65 ± 6,5 tuổi. Có 78,6% bệnh nhân trên 60 tuổi cao hơn trong mẫu nghiên cứu của Lưu Thị Hạnh tại bệnh viện Xanh Pôn, tỷ lệ BN trên 60 tuổi chiếm 49,8% [12]. Điều này cho thấy phần lớn người bị ĐTĐ týp 2 trong mẫu nghiên cứu là người cao tuổi. Những người cao tuổi mắc ĐTĐ có nguy cơ cao hơn về giảm tuổi thọ, rối loạn chức năng và mắc thêm các bệnh như THA, bệnh mạch vành, đột quỵ so với những người cùng tuổi mà không mắc ĐTĐ.
- Về giới tính của đối tượng nghiên cứu: Kết quả thống kê tỷ lệ BN mắc ĐTĐ týp 2 ở giới nam và giới nữ là tương đương nhau (nữ chiếm 50,7%, nam chiếm 49,3%).
Tỷ lệ này tương đồng với nghiên cứu của Đoàn Thúy Ngân (nữ 51,7%, nam 48,3%/) [16] hay Trần Việt Hà (nữ 47,96%, nam 52,94%) [11] và Hoàng Thị Nhinh (nữ 50,4%, nam 49,6%) [15]. Có sự khác biệt so với nghiên cứu của Đỗ Văn Doanh và cộng sự năm 2016 tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh có tỷ lệ nam là 37,4%, nữ là 62,3%
[8]. Sự khác biệt này có thể do tiêu chuẩn lựa chọn BN vào nghiên cứu, do sự khác nhau về điều kiện sống, khu vực địa lý.
- Về trình độ học vấn, việc làm: Phần lớn bệnh nhân có trình độ từ trung học phổ thông trở lên (Trung học phổ thông 35,7%, trên THPT 50,7%). Tình trạng việc làm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu phần lớn là nghỉ hưu 54,3% và tự sản xuất kinh doanh 21,4%.
- Thời gian điều trị đái tháo đường của bệnh nhân đa phần là từ 5 -10 năm (52,6%), thời gian điều trị dưới 5 năm là 42,8 % và trên 10 năm là 3,6 %. Thời gian
48
điều trị trung bình của BN là 5,4 năm, trong đó BN điều trị lâu năm nhất là 21 năm, ngắn nhất là 1 năm. Theo ADA [22], bên cạnh các yếu tố như: Các bệnh mắc kèm, tuổi thọ, nguy cơ hạ đường huyết, biến chứng, mong muốn của bệnh nhân, nguồn lực và sự hỗ trợ thì khoảng thời gian mắc bệnh là một yếu tố cần cân nhắc nhằm cá thể hóa điều trị, lựa chọn mục tiêu điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân. Với các bệnh nhân mới được chẩn đoán, nguy cơ hạ đường huyết thấp, ít bệnh mắc kèm, ít các biến chứng mạch máu lớn, mạch máu nhỏ, thái độ của bệnh nhân tốt nên lựa chọn đích HbA1c chặt chẽ (có thể HbA1c< 7%) vì ngược lại với các bệnh nhân đã được điều trị lâu có thể chọn đích HbA1c cao hơn, có thể > 8.0%.
- Về đặc điểm bệnh mắc kèm: Các bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu hầu hết đều có bệnh mắc kèm, chỉ có 6 bệnh nhân (4,3%) mắc đái tháo đường đơn độc. Hầu hết các bệnh nhân mắc từ 1 – 4 bệnh mắc kèm. Có 42,1 % bệnh nhân có từ 2 bệnh mắc kèm trở lên.
THA và RLLP là hai bệnh thường mắc kèm cùng với ĐTĐ týp 2. Trong bệnh sinh của ĐTĐ týp 2, khi lượng insulin không đủ, tổng hợp mỡ sẽ giảm, ngược lại tăng thoái hóa mỡ, tăng điều động mỡ từ các kho dự trữ hậu quả sẽ tăng lipid máu.
Tăng huyết áp vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của bệnh đái tháo đường.
Tăng huyết áp khiến đường huyết tăng cao, làm bệnh nhân đái tháo đường bị biến chứng nhanh hơn và gia tăng tỷ lệ tử vong. Nguyên nhân do tăng huyết áp cản trở dòng máu được lưu thông tới thận (gây tác động tới đái tháo đường); gây biến chứng võng mạc, mù lòa, mắc bệnh lý ở thận. Bên cạnh đó, các loại thuốc điều trị tăng huyết áp như thuốc lợi tiểu (diuretics) có kèm tác dụng phụ là tăng mức glucose trong máu.
Hiện nay trong các hướng dẫn điều trị thường có thêm hướng dẫn quản lý các bệnh đồng mắc trong đó kiểm soát huyết áp và các chỉ số lipid máu là các yếu tố được đưa vào mục tiêu điều trị.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, số bệnh nhân mắc kèm THA chiếm 69,3% % , mắc kèm RLLP máu 44,3% . Tỷ lệ này tương đương với nghiên cứu của Đoàn Thúy Ngân có tỷ lệ THA là 59,2%, RLLP 51,7% [16].
Tỷ lệ bệnh nhân THA, RLLP trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Hoàng Thị Nhinh tại bệnh viện đa khoa Thái Thuỵ có tỷ lệ THA là 22.4%, tỷ lệ RLLP là 7.2 % [15]. Sự khác biệt này có thể do tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng vào nghiên cứu, vị trí địa lý mà BN sinh sống. Do đó mục tiêu điều trị không chỉ dừng lại ở việc kiểm soát glucose máu mà còn phải kiểm soát được các chỉ số lipid máu và huyết áp bệnh nhân.
49 - Về đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân * Chỉ số đường huyết lúc đói (FPG) và HbA1c
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nồng độ glucose máu lúc đói (FPG) là 8,3 ±2,5 mmol/L và HbA1c của bệnh nhân là 7,2±1.2%. Có tới 60% bệnh nhân chưa đạt mục tiêu kiểm soát đường huyết lúc đói và có 50,9% bệnh nhân chưa đạt mục tiêu kiểm soát HbA1c < 7%. So sánh với nghiên cứu của Đoàn Thúy Ngân 2018 [16] có FPG 7.42 ±1.81 mmol/L và HbA1c là 6.98±1.09% thì bệnh nhân của chúng tôi có chỉ số FPG và HbA1c cao hơn. So sánh với kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Nhinh tại bệnh viện đa khoa Thái Thuỵ năm 2017, chỉ số (FPG) là 10,87±2,8 mmol/L và HbA1c của bệnh nhân là 8,0±1,8% [15], thì các chỉ số FPG, HbA1c trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn. Điều khác biệt này có thể do tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân khác nhau. Bên cạnh đó chỉ số glucose đói phụ thuộc vào việc ăn uống của bệnh nhân trước thời điểm đo (Bệnh nhân phải nhịn ăn và không uống nước ngọt ít nhất 8h, thường phải nhịn đói qua đêm).
* Chỉ số lipid máu
Rối loạn lipid máu là bệnh lý làm tăng tỷ lệ tử vong và biến cố tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ. Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh việc kiểm soát tốt các chỉ số lipid máu làm giảm tỷ lệ tử vong và biến cố tim mạch trên bệnh nhân ĐTĐ. Rối loạn lipid máu thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 là tăng triglycerid, giảm HDL – C. Tuy chỉ số LDL – C tăng không đáng kể nhưng tăng nguy cơ xơ vữa động mạch ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 [2],[3].
Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ 31,1% bệnh nhân đạt mục tiêu kiểm soát Triglycerid < 1,7mmol/l. 60% bệnh nhân nữ chưa đạt mục tiêu HDL, đối với bệnh nhân nam là 29% chưa đạt mục tiêu. Có 53,6 % bệnh nhân có mức LDL > 2,6 mmol/l.
Kết quả này cho thấy việc kiểm soát các chỉ số lipid máu chưa tốt, đặt ra vấn đề cho bác sỹ về việc kê đơn, hiệu chỉnh đơn để kiểm soát tốt hơn các yếu tố này.
* Chỉ số huyết áp
Tỷ lệ bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu đạt mục tiêu huyết áp là khá cao 92,1%.
4.1.2. Đặc điểm thuốc sử dụng trong mẫu nghiên cứu
Số thuốc trung bình của bệnh nhân nghiên cứu là 4,6 ± 1,2. Số thuốc nhiều nhất trong đơn là 8 thuốc, ít nhất là 1 thuốc. Các thuốc được chính trong đơn là thuốc hạ đường huyết, thuốc hạ huyết áp, thuốc điều trị RLLP máu.
Thuốc hạ đường huyết chủ yếu sử dụng metformin, gliclazid và insulin, điều này là phù hợp với hướng dẫn điều trị, metformin là điều trị đầu tay, gliclazid ít gây hạ
50
glucose huyết hơn các loại sulfonylure khác và thuốc được chọn vào danh sách các thuốc thiết yếu để điều trị ĐTĐ của Tổ Chức Y tế Thế giới. Insulin là thuốc điều trị không thể thiếu trong điều trị đái tháo đường, Insulin được sử dụng trong nhóm nghiên cứu gồm có insulin trộn, isulin nhanh, insulin chậm, insulin trung bình cả dưới dạng lọ và dạng bút tiêm. Dạng bút tiêm tiện lợi dễ sử dụng hơn tuy nhiên giá thành cao vì vậy trong mẫu nghiên cứu thì dạng lọ được sử dụng nhiều hơn. Điều này đặt ra vấn đề cho nhân viên y tế là cần phải hướng dẫn cẩn thận cách bảo quản và lấy liều đúng cho bệnh nhân.
Thuốc hạ huyết áp được sử dụng chủ yếu dưới dạng phối hợp 51,6%, nhóm thuốc sử dụng đơn độc để điều trị chủ yếu là chẹn beta (22,2%) và ức chế men chuyển (21,1%).
Thuốc điều trị RLLP máu chủ yếu sử dụng nhóm statin 66,1 %, điều này là hợp lý trong các hướng dẫn điều trị của bộ y tế.
4.1.3. Năng lực hiểu và vận dụng thông tin về thuốc
Trong nghiên cứu của chúng tôi điểm năng lực hiểu và vận dụng thông tin về thuốc trung bình là 11,3 ± 3,6 thấp hơn trong mẫu nghiên cứu của Yeh, Y.C trên 602 người lớn trên 20 tuổi tại Đài Loan là 13 ± 2,8 [63]. Sự khác biệt này là do mẫu nghiên cứu khác nhau, đối tượng nghiên cứu khác nhau.
Tỷ lệ bệnh nhân hiểu và vận dụng thông tin về thuốc chưa tốt là 54,3%, nguyên nhân có thể do phần lớn bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu là người lớn tuổi, độ tuổi trung bình là 65 ± 6,5 tuổi, có 78,6% bệnh nhân trên 60 tuổi. Phần lớn bệnh nhân trả lời sai ở câu hỏi cảnh báo thận trọng, từ vựng mang tính học thuật cao như phối hợp liều cố định.
4.1.4. Tự tin dùng đúng thuốc theo hướng dẫn
Điểm tự tin dùng đúng thuốc theo hướng dẫn trong mẫu nghiên cứu là 26 ± 5,1 thấp hơn trong nghiên cứu của Huang và cộng sự trên 199 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại một tiểu bang miền Trung Tây Hoa Kỳ là 33 ± 6 [32]. Phần lớn bệnh nhân tự tin khi dùng vài loại thuốc mỗi ngày hoặc khi không có ai nhắc, nguyên nhân là do bệnh nhân có thời gian điều trị lâu năm nên quá quen với việc dùng thuốc. Bệnh nhân không tự tin khi không rõ cách dùng, thời điểm dùng thuốc.
4.1.5. Niềm tin với các sản phẩm đông y điều trị đái tháo đường
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 87,1% bệnh nhân tin rằng các sản phẩm đông y có tác dụng điều trị bệnh tiểu đường. 48,6 % bệnh nhân tin rằng các sản phẩm đông y có thể làm tăng tác dụng của thuốc tây y để điều trị ĐTĐ tuy nhiên chỉ 10,7%
51
bệnh nhân tin rằng các SP đông y có thể thay thế thuốc tây y để điều trị. Điều này cho thấy bệnh nhân khi lựa chọn Bệnh viện y học cổ truyền – Bộ công an làm cơ sở quản lý bệnh có niềm tin vào phương pháp điều trị đông tây y kết hợp của Bệnh viện. Có 62,9% bệnh nhân đang sử dụng sản phẩm đông y để điều trị ĐTĐ và 62,1 % bệnh nhân cảm thấy hài lòng với tác dụng hạ đường huyết mà các sản phẩm này mang lại.
Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Kamel và cộng sự [62] có 64% bệnh nhân sử dụng sản phẩm đông y và 64,5% bệnh nhân hài lòng với tác dụng hạ đường huyết.
Qua đây có thể thấy tỷ lệ bệnh nhân đang sử dụng và tin vào tác dụng điều trị của sản phẩm đông y là tương đối cao, bệnh viện có thể đẩy mạnh thêm công tác sản xuất sản phẩm đông y hỗ trợ điều trị tiểu đường mang thương hiệu bệnh viện.