CÁC UỊ THÁNH UÀ NHỮAG NHA HIEN TRIẾT

Một phần của tài liệu Văn hóa triết lý phương Đông: Phần 1 (Trang 93 - 98)

9 heo truyền thống tín ngữơng người Hindu, các cá nhân có thể được xem là những tirthas (các trung tâm của sự thiêng liêng), những người hành

hương tiếp cận với những vị

thánh sống cũng như điện thờ các vị thánh đã qua đời hiện diện trong sự thiêng

Một thánh nhân đang tham thiền ở những

đoạn văn của Ramayana. Dau hiéu nam

trên trán của ông ta chứng tỏ rằng mình

là người tôn thờ than Vishnu, liêng và nhận được phúc lành.

Truyền thống tôn kính những thánh nhân dã có từ thời Vệ đà, khi sự thiêng liêng đặc biệt của các rishis (những nhà hiển triết hoặc các nhà tiên tri), những người lĩnh hội và thuật lại sự hiểu biết về kinh Vệ đà mà họ nhận thức được.

ngày nay, những con người như thế được gọi là “guru” những vi thay tinh than va họ được mọi người thăm hỏi các vấn để tâm linh lẫn thế tục. Nhiều vị thấy có một số lớn môn đồ ở khắp thế giới.

Một số nhân vật được người ta cho là thánh nhân do bởi đạo đức tri kiến tâm linh của họ tích lũy được và những người khác do bởi tư cách đạo đức mẫu mực của họ, những khả năng đặc biệt của họ là những vị thầy tinh than hoặc cảm nhận kỳ bí của họ về thượng đế.

Truyền thống Hindu phân biệt giữa những thánh nhân bằng cách sử dụng những tên gọi như là đạo sĩ yogi (những người tu tập yoga) guru (người dẫn đắt tâm linh); sant (vị thánh tân tụy hoặc người thần bí); rishi (nhà hiền triết hoặc 92

nhà tiên tri); sadhu (người thầy tu khất thực); swami (vị thầy tinh thần và cũng là một đạo sĩ khổ hạnh); nhưng tất cả đều có thể được xem như các vị thánh bởi vì họ sống mẫu mực, được biểu thị bằng sự khôn ngoan, mộ đạo, kỷ luật và phục vụ.

Những câu chuyện về cuộc đời của nhiều vị thánh đều nổi tiếng và một số những biểu tượng những sức mạnh thần thông cùng với những tình tiết về những cảm nhận và các vị

ml

Anandamayi Ma (1896 — 1982) một vị thánh người Bengali, một trong những guru Hindu đương thời được mọi người

yêu mến nhất. Bà được xem là một

kiếp giáng trần của Mahadevi, vị Nữ

thần Vĩ đại.

thầy tỉnh thần đã từng là

những nhà cải cách xã hội chẳng hạn như Vidyaranya (thế kỷ 14), Ramakrishna (thế kỷ 19; Ramdasa (thế kỷ 19) và Gandh. Những nhân vật khác như các vị thành Vaisbnava, Nammalvar và Andal được người ta sáng tác thành những bài thơ ca đẩy truyền cảm và những bài thánh ca vẫn còn được truyền tụng và ca hát. Những triết gia vĩ đại của Ấn Độ cũng được tôn kính như các vị thầy và bậc thánh, đặc biệt một Vedanta đẩy ảnh hưởng diễn giải Shankara (thế kỷ 18), Ramanuja (chết 1137), và Madhava (thế kỷ 13). Trong một ý tưởng nào đó tất cả các vị thánh đều là những vị thầy tỉnh thần dẫn dắt: bằng lời nói hoặc bằng hành động điển hình, họ tạo cảm hứng cho mọi người sống chân thật và theo đuổi công lý, trong khi đó đem lại cho họ lòng cam đảm để đối mặt với những khó khăn hàng ngày trong cuộc sống.

Trong bộ kinh Upadeshasahasri, một luận án văn chương về triết lý Vedanta, Shankara liệt kê những phẩm chất của 93

một vị guru, nằm trong đó là nổi khát khao chân thành giúp đỡ những người khác. Guru được người ta cho là người day khôn ngoan trong các kinh thánh, có tự chủ và lòng bi mẫn và thoát khỏi mọi sự xấu xa. Vai trò một vị thầy tâm linh được để cao trong toàn bộ nên văn học Hindu. Ở một số tông phái Ấn Độ giáo (Bà La Môn), chẳng hạn như Tantra, sự dẫn dắt của một guru là cơ bản, ở các tông phái khác, chẳng hạn như tông phái Shaiva Siddhanta, vi thay tinh than (guru) la một biểu tượng thần thánh. Trong nhiều truyền thống bhaki, các tín để không có sự phân biệt giữa mục đích (thần linh) và người dẫn đất họ hướng đến mục đích (vị thầy). Nhiều vị guru truy tìm phả hệ của họ đến các bậc đạiasư tỉnh thần trong quá khứ, từ đó tạo khẳng định về một loạt những lời giáo huấn và tri kiến có uy tín và bên vững.

Ngày nay, những người Ấn Độ giáo và ngoại giáo ở Ấn Độ và nước ngoài đã chuyển hướng đến sự dẫn đắt của các vị thầy tỉnh thả. Rama Krishna (1836 — 1886) mệt nhà thần bí, một vị thánh người xứ Bengali, đã dạy rằng tất cả các tôn giáo đều có những con đường khác nhau để đi đến những cảm nhận về thần thánh. Người đệ tử của ông, Swami Vivekananda, mang thông điệp này đến Hội nghị tôn giáo thế

giới ở Chicago vào năm 1893 và kế từ đó giáo lý huyển bí

của ngày đã tìm thấy được một mái ấm tâm linh cùng với trí tuệ ở Phương tây.

Những vị thầy tỉnh thần khác đã có lời kêu gọi đây cắm xúc tuyệt vời, kể luôn 8wami Narayana (1781 — 1830) lãnh tụ của phái Satsang, Sai Bala (sanh 1926), được người ta cho là những kiếp giáng trần của thần Shiva; Ramana Maharishi

(1879 ~ 1950) người đã dạy việc sử dụng câu hỏi “Anh là ai?”

và Swami Shivanada (chết 1964), một bác sĩ rồi trở thành một tu sĩ (sannayasin) người thành lập Hiệp hội đời sống thiêng liêng ở Rishikesh. Các tín đỗ tìm kiếm những vị guru như thế bằng ở nơi sự hiện diện của họ và nhận lĩnh những 94

lời giáo huấn của họ cùng với phúc lành: một cái chạm nhẹ hoặc một ánh mắt của vị thầy có thể mang lại hồng ân và tình thương. Mặc dù khi có nhiều vị thầy vĩ đại thương yêu nhắc nhở những môn đồ của mình, nhưng vị thầy đích thực chỉ được bản thân họ nhận ra.

Mahatma Gandhi Mohandas Karamchand

Gandhi (1869-1948) duge moi người trên thế giới biết đến với cái tên Mahatma hoặc

“Tâm hồn cao thượng”, được rút ra từ giáo lý của nhiều truyền thống tôn giáo để áp dụng trong việc theo đuổi chân lý của mình, tạo ra những niềm phấn khởi trong những năm tháng hoạt động chính trị của ông ta.

Bhagavad Gita (Chí tôn

ca), đãi tấu động iếm lao đến. Bức hình chụp Mahatana Gandhi vào

Ong Gandhi dat niem tin năm 1948, ngay trước lúc ông bị ám sát,

vào sự quan trọng của hành ông đã dẫn dắt Ấn Độ đến nền độc lập, động quên mình. Ông đặc tự tị

biệt chủ trương đường lối bất bạo động (alimsa), một trong những nên tảng đạo đức cơ bản của Ấn Độ giáo. Bằng hành động điển hình của bản thân, ông chứng minh rằng thuyết bất bạo động và không phải là lời kêu gọi thụ động, nhưng một đường lối kỷ luật mang tính tích cực và trách nhiệm liên quan đến thế giới này. Đối với Gandhi, “alimsa” không chỉ là một chủ nghĩa đạo đức mà cũng là một tín điều chính trị.

95

Niễm tin của Gandhi là sự theo đuổi chân lý đó là những gì dẫn đến sự giải thoát (moksha) tạo cho ông ta trở nên tích cực trong vũ đài chính trị. Trong tiểu sử của mình, ông giải thích rằng theo cảm nhận của bản thân ông dạy rằng “không có vị thần linh nào hơn Chân lý”. Sự nhận thức tín ngưỡng này đưa thẳng ông vào việc hoạt động chính trị “những ai nói rằng tôn giáo không có liên quan đến chính trị là không hiểu điều mà tôn giáo muốn nói”.

96

Một phần của tài liệu Văn hóa triết lý phương Đông: Phần 1 (Trang 93 - 98)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(145 trang)