Nhiéu su m6 ta va gidi thich ti mi vé con duéng cila Phát giáo đã được duy tri
trong các tạng kinh và các ban chú giải, chẳng hạn như các thẻ vàng Maunggun
thế kỷ thứ 5 trước CN, được trình bày ở đây, là trong những kinh điển xưa nhất của Phật giáo mà người ta đã phát hiện 6 Burma (Miến Điện)
t nhà sư có tên Malunkyaputta đã có lần bạch với Mec Phật những câu hỏi phức tạp về bản chất của vũ trụ h hồn cũng như số mệnh của một vị Phật sau khi ha đời. Đức Phật bảo với vị này, khi đặt những câu hỏi này, con hãy đóng vai một người đang bị thương bởi một mũi tên, người này từ chối chữa trị cho đến khi tìm hiểu được ai đã bắn mình, anh ta ở tầng lớp nào, từ đâu đến và dùng loại cung tên nào. Chắc chắn người này sẽ chết trước khi giải quyết các vấn để này. Một giáo lý cơ bản và thực tiễn, con đường của Đức Phật tránh xa những suy đoán và chỉ tập trung đến những câu hỏi dẫn đến đời sống Phạm hạnh và sự diệt duhkha: tất cả những vấn để khác là không quan trọng đối với Con Dường.
Bát Chánh Đạo dẫn đến sự đoạn diệt Duhkha được định rõ trong Tứ Diệu Đế là sự trình bày của Đức Phật về duhkha mà tất cả chúng sinh đều phải trải qua. Nó thường được phân tích thành ba thành phần chủ yếu: shila (giới), samadhi (định) prajna (tuệ). Một phương cách khác đồng hóa với con đường bắt đầu với dana (bố thí). Dana làm nên móng cho Shila và kế tiếp có thể giúp một người đi đến những nguyện vọng cao cả hon. Shila, Samadhi va Prajna là cốt lỗi của sự tu tập 136
tâm linh Phật Giáo và không thể tách rời được. Chúng không
chỉ thuần túy là những phần phụ trợ với nhau giống những cánh hoa của một đóa hoa, nhưng được hòa trộn với nhau giống như "muối trong đại dương” dẫn đến sự so sánh nổi tiếng của Pật giáo
Sh1la (giới) được mô tả trong 8 chánh đạo là “Chánh ngũ, chánh nghiệp, chánh mạng”, liên quan đến những mệnh lệnh đạo đức quen thuộc như là tránh xa sự nói dối và sát sanh.
Trong sự tu tập hàng ngày của Phật giáo shila do bởi sự bố thí (dana), nó được xem là hành động đạo đức cơ bản. Dana còn hơn lòng nhân từ hoặc lòng bao dung, bởi vì nó có một ý nghĩa tên giáo chính xác. Mục tiêu của nó là giáo hội tăng gia (sangha) và nó là giới đức lớn lao dành cho những người tại gia dâng cúng phẩm vật chủ yếu cho các nhà sư hàng ngày như thức ăn, nơi ở, quản áo và thuốc men. Những thành viên cua Sangha cing tu tap Dana, bang cách chia xẻ món quà vi dai nhat: su truyén day Dharma.
Sihta được người ta trao đổi bằng cách tuân thủ từ 5 đến 10 giới luật. Những cư sĩ tại gia lẫn chư tăng ni nếu tuân giữ cái gọi là “Ngũ Giới”; căn bản đạo đức của Phật Giáo:
(1) Tránh xa sự sát sanh; (2) Tránh xa sự trộm cắp; (3) Tránh
xa sự tà dâm; (4) Tránh xa sự nói đối; (5) Tránh xa sử dụng các chất say (như rượu, ma túy) làm cho tâm u mê. Ngoài ra chư tăng ni phải tuân giữ thêm 5 giới luật khác (xem trang 81). Các điều giới luật này không chỉ được tuân giữ trong sự tu tập mà còn được xem như những lời nguyện ở hình thức tụng niệm.
Phần thứ 2 của Bát Chánh Đạo, Samadhi (định) liên quan đến “Chánh tính tấn, chánh niệm và chánh định” Sự trau
déi yoga và thién, samadhi là không phải một sự lựa chọn về đạo đức mà cũng phải là sự bổ sung bắt buộc. Giống như các tôn giáo khác ở Ấn Độ, Phật giáo xem cái tâm như là một phương tiện truyền bá chủ yếu về sự cứu độ và nhấn mạnh sự rèn luyện thích đáng của nó.
137
Chánh tỉnh tấn được hướng đến việc tạo nên những trạng thái tâm thiện và ngăn chặn những trạng thái tâm bất thiện, trong khi đó chánh miệm phat huy sử tỉnh giác về cảm xúc, những hoạt động của thân và tâm. Sự rèn luyện này dẫn đến chánh niệm, nó là sự đạt được những trạng thái tâm ngây ngất biến đổi khác nhau tạo nên khả năng cảm nhận hỷ lạc và chánh tư duy “cầu thành (trí tuệ) praja. Để đạt được praja, là thể nhập trực tiếp vào bản chất thật của vạn vật, nó tương ứng với sự giải thoát trong Đạo Phật. Prajna cần được đi trước bởi shila (giới) và samdhi (định) và thường được phát triển
từ phương pháp thiền quán hoặc thiển minh sát tuệ độc đáo
của Phật giáo. Sự tìm kiếm prajna cũng có thể liên quan một sự quan sát Dharma sâu sắc và bằng cách nào để cảm nhận được thế gian. Với ý nghĩa mang nhiều tính cách kỷ luật hơn.
chánh kiến là sự hiểu biết về Tứ Diệu Đế và chánh tư duy là lòng từ bi hỷ xả khiến cho tâm thoát khỏi tham dục, hận thù và tàn ác.
Juiần Bink Ud Jhién Minh Sdk Jud
Thiền của Phật giáo (bhavana) dựa trên 2 phương pháp
— Shamatha (vắng lặng hoặc tịnh tâm) và Vipashyana (minh sát hoặc tuệ giác) cả hai đều là những phương tiện thiết yếu cho Bát Chánh Đạo dẫn đến sự diệt Duhkha.
Thiển Shamatha (định) nhằm vào việc đạt được sự vắng lặng và tập trung (định) và nâng sự nhận thức về để mục thiển đến một điểm trừu tượng. Tất cả những chướng ngại tinh than đã được loại trừ, khỏi tâm “bòa nhập” vào một ý tưởng trừu tượng của để mục: sự hòa nhận (an chỉ định) này được gọi là đhyana (thiển định hoặc gom tâm lai) (tiéng Pali Jhana; Trung Quốc Ch'an; và Nhật Zen). Những “công cụ hỗ trợ thiền” mang lại những trạng thái an chỉ định khác nhau.
188
Một sadi đang tham thiền ở thiển viện Eiheiji, Nhật Bản
Những người mới bắt đầu hành thiền có thể tập trung vào một cái đĩa có màu sắc (kasina) làm dé mục tham thiền, trong khi đó những hành giả tiến bộ hơn có thể tập trung vào sự tưởng niệm đến Đức Phật.
Mục đích của thiền Vipashana là nhận thức được tuệ giác (prajna) Điều này người ta cũng có thể dẫn dân đạt được qua các trạng thái an chỉ của thiền shamatha. Hành giả tập trung sự hiểu biết sâu sắc vào ba đặc tính của thế tục: vô thường (anitya) khổ (duhkha) và vô ngã (anatman).