Chương II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện năm 2020
4.1.2. Về cơ cấu phân nhóm thuốc điều trị theo tác dụng dƣợc lý
Danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện phụ thuộc vào mô hình bệnh tật, hướng dẫn điều trị chuẩn. DMT chủ yếu, trình độ chuyên môn kỹ thuật và
58
nguồn lực tài chính của bệnh viện. Bộ Y tế đã ban hành Thông tƣ 30 về DMT hoá dƣợc và Thông tƣ 05 về DMT thuốc cổ truyền, thuốc dƣợc liệu thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT làm căn cứ để cơ sở khám, chữa bệnh xây dựng DMT sử dụng tại bệnh viện
DMT bệnh viện sử dụng năm 2020 bao gồm 493 khoản mục, đƣợc chia thành 24 nhóm tác dụng dƣợc lý của thuốc tân dƣợc và 09 nhóm tác dụng dƣợc lý thuốc thuốc cổ truyền, thuốc dƣợc liệu thể hiện đặc thù của một bệnh viện đa khoa tỉnh; SKM bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng thấp hơn DMT của bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang năm 2019 (568 SKM); thấp hơn Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2019 (680 SKM).
Phân tích cơ cấu DMT theo nhóm tác dụng dƣợc lý cho thấy các nhóm thuốc có giá trị sử dụng lớn nhất lần lƣợt là: Thuốc điều trị ký sinh trùng. chống nhiễm khuẩn (20,91%); Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết (17,01%) ; Thuốc tim mạch (15,38%); Dung dịch điều chỉnh nước. điện giải.cân bằng acid-base và (6,57%). Kết quả này cũng khá tương đồng với kết quả của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam năm 2019 [18]; Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2019 [20]; Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên 2019 [22] về GTSD nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn.
Đánh giá sự phù hợp của cơ cấu DMT theo nhóm tác dụng dƣợc lý với mô hình bệnh tật tại bệnh viện năm 2020: Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ lớn nhất về SKM và GTSD trong khi đó mô hình bệnh tật của bệnh viện nhóm bệnh của Bệnh nội tiết, dinh dƣỡng chuyển hoá (E00-E90 ); hệ tuần hoàn (I00-I99) lại chiếm tỷ lệ cao nhất. Nhƣ vậy, chưa có sự tương đồng giữa nhóm thuốc được sử dụng nhiều nhất và mặt bệnh thường gặp nhất tại bệnh viện. Tuy nhiên, hiện nay mô hình bệnh tật của bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng đƣợc thống kê dựa trên mã bệnh chính (theo mã ICD10) mà chƣa tổng hợp đƣợc các bệnh mắc kèm dẫn đến chƣa phản ánh
59
chính xác thực tế. Do đó, đề tài chƣa thể kết luận có sự bất hợp lý trong sử dụng kháng sinh tại bệnh viện mà cần tiến hành phân tích sâu hơn.
So sánh với kết quả nghiên cứu của một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh cho thấy: Đối với nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn tỷ lệ GTSD tại bệnh viện thấp hơn bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam năm 2019 (35,74%) [18], thấp hơn số liệu bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2020 (27,14%)[20]; cao hơn bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên năm 2019 (19,07%)[22]; Nhìn chung nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao, gần nhƣ ở các bệnh viện. Điều này càng khẳng định việc Bộ Y tế và các bệnh viện đƣa kháng sinh vào quản lý chặt chẽ, tránh tình trạng lạm dụng kháng sinh ngoài vấn đề giảm tỷ lệ sử dụng kháng sinh còn có thể giảm kinh phí sử dụng thuốc nếu quản lý tốt.
Về Thuốc cổ truyền, thuốc dƣợc liệu, Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng sử dụng 09 nhóm tác dụng theo Thông tƣ 05, trong đó cao nhất về SLKM và GTSD trong DMT bệnh viện là nhóm thuốc an thần. định chí. dƣỡng tâm (2.03% SLKM; 7.50% GTSD). Tác giả chƣa tìm đƣợc nghiên cứu nào tìm hiểu sâu về các nhóm tác dụng của thuốc cổ truyền, thuốc dƣợc liệu nên không có điều kiện so sánh, đánh giá.
* Về cơ cấu các thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn đƣợc sử dụng.
Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn sử dụng tại bệnh viện năm 2020, trong đó thuốc chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất điển hình là nhóm Beta-lactam (83,48%)
Thực tế cho thấy các bệnh viện đang phải đối mặt với sự lan rộng các chủng vi khuẩn đa đề kháng với các kháng sinh. Vấn đề về thực trạng kháng kháng sinh đã mang tính toàn cầu và đặc biệt nổi trội ở các nước đang phát triển.
Ngày 04/3/2016, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 772/QĐ-BYT nhằm hướng dẫn quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện với các mục đích: Tăng
60
cường sử dụng kháng sinh hợp lý, giảm hậu quả không mong muốn khi dùng kháng sinh, nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh, ngăn ngừa vi khuẩn đề kháng kháng sinh và giảm chi phí y tế.
Kết quả phân tích cơ cấu thuốc kháng sinh sử dụng cho thấy phần lớn giá trị tiền thuốc kháng sinh tập trung vào nhóm beta-lactam (83.48% GTSD).
Sau đó đến nhóm Quinolon chiếm (5.37 % GTSD) và Nitroimidazol chiếm (4.01%) GTSD. Các kháng sinh còn lại chiếm (0.08% GTSD đến 3.22%
GTSD).
Trong phân nhóm Betalactam phân nhóm pennicilin chiếm tỷ lệ lớn nhất 65.45% GTSD, tiếp theo là các cephalosporin 32.97 % GTSD, phân nhóm carbapenem chiếm 1.58% GTSD.
Trong phân nhóm penicllin thì hoạt chất Piperacilin chiểm tỷ lệ sử dụng cao nhất 17,94%, oxacilin 14,78%; Amoxicilin + acid clavulanic 11.81%.
Trong phân nhóm cephalosporin: Cephalosporin TH3 sử dụng nhiều nhất trong đó điển hình là Cefoperazon+sulbactam chiếm 7,92% GTSD, Cefotaxim chiếm 4.67% GTSD; đứng thứ 2 là cephalosporin TH2 điển hình là Cefuroxim chiếm 5.13% GTSD. Đối với một bệnh viện đa khoa tuyến cuối của tỉnh thì việc sử dụng kháng sinh như này là tương đối hợp lý vì bệnh viện thường xuyên tiếp nhận các ca bệnh nặng, phức tạp đã được điều trị tại tuyến dưới chuyển lên. Tuy nhiên Quyết định 772/QĐ-BYT cũng đã khuyến cáo nên điều trị xuống thang (chuyển từ kháng sinh đường tiêm truyền sang kháng sinh đường uống) do đó bệnh viện nên cân nhắc đối với cefotaxim đường tiêm sang đường uống bằng các kháng sinh cepodoxim hoặc cefuroxim đường uống.
* Về Cơ cấu thuốc Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết.
Nhóm Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết có tỷ lệ sử dụng cao thứ hai trong đó tập trung chủ yếu vào nhóm Insulin và nhóm thuốc hạ đường huyết, phù hợp với mã bệnh ICD của viện, sở dĩ có mã bệnh này
61
cao với một bệnh viện tuyến tỉnh là do sát nhập trung tâm nội tiết vào bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng.