Song chắn rác
Toàn bộ nước thải từ các phân xưởng sản xuất theo hệ thống cống rãnh của công ty được dẫn về bể thu gom. Trước khi qua bể thu, nước thải được dẫn qua song chắn rác thô để giữ lại và loại bỏ các loại rác, tạp chất vô cơ có kích thước lớn hơn 16mm (như bao nylon, rác, xương, vây, giấy, lá cây…) ra khỏi nước thải nhằm bảo vệ đường ống, các máy móc thiết bị ở các công đoạn xử lý phía sau.
Lượng rác này thường xuyên được lấy đi bằng thủ công. Sau đó rác được tập trung lại và được xe gom rác đưa đến bãi rác để xử lý.
Bể thu gom
Nước thải sau khi qua song chắn rác chảy sang bể gom, sau đó nước thải được bơm lên bể điều hòa.
Bể điều hòa
Do tính chất nước thải thay đổi theo từng giờ sản xuất và phụ thuộc nhiều vào loại nước thải của từng công đoạn. Vì vậy, việc xây dựng bể điều hòa là rất cần thiết.
Trong bể điều hoà ta bố trí hệ thống ống phân phối khí đục lỗ và khuấy trộn nhằm điều hòa về lưu lượng và nồng độ các chất ô nhiễm của nước thải như COD, BOD, SS, pH.... Đồng thời, các đĩa phân phối khí sẽ cung cấp oxy cho nước thải nhằm oxy hóa một phần (10-20%) hàm lượng COD, BOD có trong nước thải và giảm bớt mùi hôi do quá trình phân hủy kỵ khí trong bể.
Bể tuyển nổi
Từ bể điều hòa, nước thải sẽ được phân phối bằng bơm vào bể tuyển nổi áp lực, nhờ lực đẩy nổi và tỉ trọng nhỏ hơn nước của sơ sợi nên các hạt nhỏ hoặc mỡ kết dính với nhau thành những hạt lớn hơn và nổi lên bề mặt. Tại đây sẽ được bố trí hệ thống gạt để thu hồi lại, sau đó nước thải sẽ được dẫn sang bể trung gian trước khi vào bể phản ứng kị khí UASB.
Bể trung gian
Nước thải từ bể tuyển nổi áp lực được dẫn sang bể trung gian để tách các bọt khí lẫn trong nước thải nhằm tránh gây sốc các vi sinh vật ở bể kỵ khí UASB.
Bể UASB
Từ bể trung gian, nước thải được bơm với một lưu lượng cố định vào bể phản ứng kỵ khí UASB. Tại bể UASB, các vi sinh vật ở dạng kỵ khí sẽ phân hủy các chất hữu cơ có trong nước thải (hiệu suất xử lý của bể UASB tính theo COD, BOD đạt 60- 80%) thành các chất vô cơ ở dạng đơn giản và khí biogas (CO2, CH4, H2S, NH3 …), theo phản ứng sau :
CHC + VSV kỵ khí CH4 + CO2 + H2S + Sinh khối mới + … Bùn dư từ bể UASB được định kỳ xả về bể nén bùn.
Bể Aeroten
Sau khi qua bể UASB, nước thải được dẫn qua bể Aerotank để tiếp tục quá trình xử lý. Tại bể Aerotank diễn quá trình sinh học hiếu khí được duy trì nhờ bố trí hệ thống
chất hữu cơ còn lại trong nước thải thành các chất vô cơ ở dạng đơn giản như: CO2, H2O…theo phản ứng sau:
CHC + VSV hiếu khí + O2 H2O + CO2 + sinh khối mới +…
Vi sinh vật hiếu khí sẽ sử dụng các chất hữu cơ dạng keo và hoà tan trong nước làm thức ăn để sinh trưởng và phát triển. Khi đó vi sinh vật sẽ phát triển thành quần thể có kích thước lớn dễ lắng gọi là bông bùn hoạt tính. Khi vi sinh vật phát triển mạnh, sinh khối tăng tạo thành bùn hoạt tính dư. Hàm lượng bùn hoạt tính nên duy trì nồng độ MLSS = 2500-4000mg/l.
Do đó tại bể aerotank, một phần bùn dư từ bể lắng phải được dẫn hoàn lưu về để bảo đảm nồng độ bùn hoạt tính nhất định trong bể. Hiệu suất xử lý của bể Aerotank tính theo COD, BOD đạt khoảng 90-95%.
Bể lắng II
Hỗn hợp nước và bùn hoạt tính hình thành từ bể aerotank được dẫn sang bể lắng.
Bể này có nhiệm vụ lắng và tách bùn hoạt tính ra khỏi nước thải. Bùn sau khi lắng, một phần sẽ được tuần hoàn lại bể aerotank nhằm duy trì nồng độ MLSS trong bể Aeroten, phần còn lại dẫn sang bể nén bùn. Còn nước trong được thu bằng máng thu ở phía trên và chảy sang bể tiếp xúc.
Bể tiếp xúc
Phần nước trong từ bể lắng chảy sang bể tiếp xúc để tiến hành khử trùng. Mục đích của khử trùng là tiêu diệt các loại vi khuẩn gây bệnh cho con người và động vật nhờ các chất oxy hoá mạnh trước khi xả nước thải ra cống thoát chung của KCN Mỹ Quí.
Chất khử trùng được chọn là Chlorine (vì giá thành rẻ, phổ biến) hàm lượng 10mg/l.
Thiết bị Chlorator được sử dụng để định lượng Chlorine cho vào nước.
Nước thải sau khi được hoà trộn với Clo phải có đủ thời gian lưu để tiêu diệt hoàn toàn các vi khuẩn gây bệnh có trong nước trước khi dẫn về khu xử lý tập trung của KCN.
Nước thải sau khi qua bể tiếp xúc khử trùng đạt quy chuẩn QCVN 11 - 2008, loại B và được thải về khu xử lý tập trung của KCN.
Bể nén bùn
Bùn dư (bùn sinh học) ở đáy bể lắng và bùn dư từ bể UASB được đưa về bể nén bùn. Tại bể nén bùn, nhờ quá trình lắng trọng lực nồng độ bùn thải từ 1% tăng lên 2,5 3%.
Thuận lợi của nén bùn trọng lực là giảm kích thước của công trình xử lý bùn tiếp theo như bể phân hủy hiếu khí, tiết kiệm chi phí nhân công và năng lượng.
Máy ép băng tải
Bùn sau khi đã nén sẽ được đưa đến máy ép băng tải để giảm thể tích bùn. Trong quá trình máy ép làm việc ta phải bổ sung thêm polyme để tăng khả năng tách nước nhằm giảm thời gian làm khô bùn.
Sau đó đem thải bỏ nơi qui định hoặc sử dụng làm phân bón cho cây trồng, cải tạo đất canh tác.
CHƯƠNG 4