II.1. Phân loại khoa học:
Bảng I.9: Phân loại khoa học của cây mít
Mít là loài thực vật ăn quả, mọc phổ biến ở Đông Nam Á và Brasil. Nó là cây thuộc họ Dâu tằm Moraceae, và được cho là có nguồn gốc ở Ấn Độ và Bangladesh.
Quả mít là loại quả quốc gia của Bangladesh. Tên gọi khoa học của nó là Artocarpus integrifolia.
Giới (Kingdom) Plantae
Ngành (Division) Magnoliophyta Lớp (Class) Magnoliopsida
Bộ (Order) Rosales
Họ (Family) Moraceae
Chi (Genus) Artocarpus
Loài (Species) Artocarpus heterophyllus Tên hai phần
Artocarpus heterophyllus Lam.
Hình I.6: Quả mít Hình I.7 : Múi mít
II.2. Đặc điểm:
Cây mít thuộc loại cây gỗ nhỡ cao từ 8 đến 15 m. Cây mít ra quả sau ba năm tuổi và quả của nó là loại quả phức, ăn được lớn nhất có giá trị thương mại, hình bầu dục kích thước (30-60) cm x (20-30) cm. Mít ra quả vào khoảng giữa mùa xuân và chín vào giữa và cuối mùa hè (tháng 7-8). Nó là một loại quả ngọt, có thể mua được ở Mỹ và châu Âu trong các cửa hàng bán các sản phẩm ngoại quốc. Sản phẩm được bán trong dạng đóng hộp với xi rô đường hay có thể mua ở dạng quả tươi ở các chợ châu Á. Các lát mỏng và ngọt cũng được sản xuất từ nó. Mít cũng được sử dụng trong ẩm thực của khu vực Đông Nam Á, trong các món ăn của người Việt Nam và Indonesia.
- Cây mít trồng từ hạt, ra hoa khi 4- 5 tuổi. Hoa xuất hiện trên những cuống ngắn khô, phân nhánh, mọc trên thân chính hoặc các nhánh lớn. Càng về già hoa mọc trên cao, trên các cánh, cũng có khi ở cây già hoa mít ra cả trên những rễ lớn mọc trồi lên trên mặt đất.
- Hoa đơn tính, có hoa đực và hoa cái riêng, mọc trên cùng 1 cây (đơn tính đồng chỉ). Hoa đực nhiều, không có cánh hoa, mọc chen nhau trên cùng 1 trục gọi lá cụm hoa đực hình đuôi sóc, nhỏ và dài, bao phấn nổi lên trên bề mặt cụm hoa. Hoa cái cũng sinh ra từ cụm, không có cánh, mọc sát nhau trên cùng 1 trục, mỗi cụm có tới vài trăm hoa, nhụy chẻ đôi, nổi lên trên mặt cụm hoa. Cả cụm hoa đực và cụm hoa cái đều được nhân dân gọi là “dái mít”.
- Chưa biết rõ thụ phấn nhờ gió hay nhờ côn trùng nhưng ở Ấn Độ thụ phấn nhân tạo có tác dụng tăng năng suất, trái lại tròn đẹp, ít có múi lép. Khi mít trồng nhiều, tập trung thì khả năng thụ phấn phát triển.
- Nói chung, mít thích khí hậu nóng và mưa nhiều. Vì vậy ở Việt Nam từ Bắc đến Nam ở đâu cũng trồng mít, trừ những vùng cao ở miền Bắc.
- Mít có bộ rễ sâu, chống hạn tốt, nhưng muốn có sản lượng cao thì chỉ nên trồng ở nơi có lượng mưa từ 1000mm trở lên, nếu không tưới. Ngược lại, mít chịu nóng kém và ở những vùng đất bị úng vào những năm bị lụt thì mít là cây bị chết trước tiên.
- Mít dễ tính về mặt đất đai, đất dù xấu, nhiều sỏi đá, miễn là thoát nước đều có thể trồng mít, nhưng muốn cây to nhiều quả phải trồng ở đất phù sa thoát nước.
II.3. Thành phần hóa học của mít:
- Trong phần ăn được của mít thì nước chiếm 72,3%, protein 1,7%, lipid 0,3%, đường tổng số 23,7%.
- Trong 100g ăn được có: Calcium 27g, phosphor 38 mg, sắt 0,6 mg, natrium 2 mg, kalium 407 mg, và các vitamin: B1 0,09 mg, B2 0,11 mg, C 9 mg, P 0,7 mg.
- Mít có hàm lượng calo rất thấp, trong 100 gram mít chỉ chứa khoảng 94 calo.
II.4. Các giống mít: Ở Việt Nam có 2 giống:
II.4.1. Mít thường: (Artocarpus Heterophylus Lam)
- Trồng ở cả miền Bắc và Nam, búp và lá non không có lông, trái to, vài ba kg đến 10 - 20 kg.
- Nguyễn Công Dư phân tích một quần thể mít ở Hương Khê, Hà Tĩnh (1976) đã cho những kết quả sau đây:
Bảng I.10: Thành phần trung bình một quả mít ở Hương Khê Chỉ tiêu 1 quả 1 cây: 12
quả (kg) 1 ha 250 cây (kg) Khối lượng
(kg) Tỷ lệ (%)
Khối lượng trung bình 6.75 100 81 20250
Múi tươi 1.9 28 22.8 5700
Hạt tươi 1.06 15 12.72 3180
Xơ 1.62 25 19.1 4775
Vỏ và lõi 2.20 32 26.4 6600
II.4.2. Mít tố nữ: ( Artocarpus Interger Thumb )
- Cây không khác lắm nhưng trên lá và trên ngọn non có những lông màu nâu dựng đứng, trái nhỏ hơn và múi thường dính vào với lõi, vỏ có xơ dính liền có thể mổ bằng 1 nhát dao dọc, rồi tách khỏi múi dễ dàng. Trái tuy nhỏ chỉ khoảng 1-2 kg nhưng cây rất sai, có hàng trăm trái.
- Cả 2 loại mít đều có 2 dạng: mít khô (mít dai) và mít ướt (mít mật). Mít khô khi chín còn rắn nhưng mít ướt khi chín nhão ra như bột.
II.5. Nhân giống mít:
Nhân giống cho sản xuất phải bắt đầu bằng chọn cây mẹ tiêu chuẩn như sau:
- Chóng ra hoa, trái và đậu nhiều trái. Khi nhân giống vô tính thì cây phải có trái sau 3 năm.
- Tùy theo mục đích trồng mà chọn chất lượng trái. Hiện nay người ta trồng mít để ăn phần cơm (phần thịt) của múi mít. Hương vị của múi mít tùy thuộc vào lượng đường, vào mùi thơm, vào tỷ lệ xơ của múi mít (càng ít xơ càng tốt) và phải đánh giá dựa theo ý kiến của nhiều người.
Có vùng nghèo thích những giống nhiều hạt thì phải chọn những trái mít tỉ lệ hạt cao (khoảng 30 – 40%).
- Ít sâu bệnh…
- Còn có thể chọn cây mẹ theo nhiều tiêu chuẩn khác như bộ lá và bóng râm, chiều cao và hình thù tán cây, thân thẳng, đường kính lớn để lấy gỗ…
9 Nhân giống dùng hạt:
- Một quả mít nhiều nhất có tới hàng trăm hạt và không bao giờ thiếu hạt giống.
Tuy vậy gieo hạt có những nhược điểm sau đây:
Có biến dị, không giữ nguyên phẩm chất cây mẹ.
Lâu có quả, trung bình 4 – 8 năm.
Gieo hạt cây con có rễ cái, bứng dễ chết.
- Hạt mít nặng trung bình từ 1 – 7g, nên dùng làm giống những hạt nặng tối thiểu 4 – 5g. hạt mít tách khỏi quả nên gieo ngay, nếu để lâu thì tỷ lệ mọc giảm.
9 Ghép:
- Sau khi gieo 1 – 2 năm, cây con đủ tiêu chuẩn ghép. Tuy nhiên phương pháp này gặp nhiều khó khăn do mít có nhiều nhựa, khó tiếp hợp, mắt ghép mềm, dễ thối.
- Tùy theo phương pháp ghép và thời gian ghép mà tỷ lệ sống chỉ đạt 20 – 50%.
- Phương pháp ghép tốt nhất là: Ghép mắt và ghép áp.
9 Chiết cành:
- Là phương pháp có triển vọng, đã áp dụng rộng rãi ở Ấn Độ nhưng chưa phổ biến.
- Có thể dùng chất kích thích như IBA 5000ppm để tăng tỷ lệ ra rễ một cách đáng kể.
II.6. Kỹ thuật trồng và chăm sóc:
- Cây mít có rễ cọc, đánh đi trồng dễ chết, nên ra ngôi khi cây mít khoảng 1 năm tuổi, già hơn nếu không chết thì cây cũng ốm lâu.
- Thời vụ trồng: Ở miền Nam trồng vào tháng 4 – 5, ở miền Bắc trồng vào tháng 3 – 4 hay 8 – 9 đều được nhưng tháng 3 – 4 tốt hơn.
- Nên trồng với mật độ 200 – 250 cây/ha (7x7m hay 7x6m), đất tốt chỉ nên để 100 cây (10x10m hoặc 7x14m).
- Tưới nước: chỉ cần tưới nước giai đoạn đầu để cây con bắt rễ.
- Bón phân: sử dụng phân NPK 16:16:16, 3 năm đầu dùng phân 16:16:8 cũng được nhưng từ khi ra trái nhất thiết phải có phân kali, không có kali hay thiếu kali thì phải bón tro thay nhưng lượng tro phải lớn. Từ khi mít đã có trái chỉ bón phân 2 lần một năm, vào cuối vụ thu hoạch rộ và đầu mùa vụ.
- Làm cỏ: Khi làm cỏ thì tránh làm đứt rễ.
II.7. Phòng chống sâu bệnh:
Mít ít bị sâu bệnh hơn so với các cây ăn trái khác. Thường gặp 1 số loại:
- Sâu đục cành đục trái Margaronia.
- Ruồi đục trái Dacus sp.
- Rệp sáp, rầy…
- Các bệnh nguy hiểm: bệnh thối rễ, thối gốc do Phytophtora có thể làm chết cả cây lớn vài chục tuổi.
II.8. Thu hoạch:
- Một cây mít có thể mang vài chục hoặc vài trăm trái nhất là những giống mít mới, trái nhỏ.
- Dấu hiệu chín là màu quả từ xanh chuyển sang vàng, nắn thấy mềm, có mùi thơm.
- Mít thường tuy trái to nhưng dễ vận chuyển hơn vì vỏ dày, còn mít tố nữ vỏ mỏng phải tránh đụng chạm mạnh.
II.9. Lợi ích của Mít:
- Quả xanh chát vì chứa tannin và lupeol, acetat – β – amyrin và nhựa mủ steroketon, artostenon.Quả chín vị ngọt, tính ấm, trợ phế khí, trữ âm nhiệt. Hạt vị ngọt, tính bình, thơm, an thần, giải độc, giảm đau. Lá lợi sữa, giúp tiêu hóa, an thần.
- Chế biến làm thực phẩm: Múi mít chín thường được ăn tươi, xơ mít có thể dùng muối chua như muối dưa, hạt mít luộc chín để ăn. Quả mít non còn được dùng như một loại rau củ để nấu canh, kho cá, trộn gỏi. Lá mít dùng nuôi gia súc, có tác dụng kích thích sự tiết sữa…
- Quả mít non hoặc dái mít cũng được dùng hầm với chân giò heo và nếp cho phụ nữ sinh đẻ ăn cho nhiều sữa. Dái mít được dùng chữa sa dạ con. Hạt mít còn được dùng chữa ho. Nhựa mít dùng đắp rút mủ mụn nhọt và trừ giun.
- Mít chứa nhiều chất dinh dưỡng như vitamin A, C, B2, canxi, kali, sắt, natri, kẽm... và có hàm lượng calo rất thấp, trong 100 gram mít chứa chỉ có 94 calo.
- Nhiều nghiên cứu cho thấy thức ăn giàu kali sẽ giúp làm giảm huyết áp, mà trong mít lại chứa khá nhiều kali, 100gram có tới 300 milligram. Do đó, mít thật sự là nguồn dinh dưỡng có ích đối với người bị cao huyết áp.
- Một lợi ích nữa mà mít đem lại đó là nguồn vitamin C. Cơ thể con người không thể tạo ra vitamin C một cách tự nhiên, nên chúng ta phải ăn những thực phẩm có chứa nó. Bởi vì vitamin C là một chất chống oxy hóa bảo vệ cơ thể chống lại những gốc tự do, giữ lại những tế bào trong cơ thể và làm hệ thống miễn dịch mạnh lên cũng như giữ cho răng lợi chúng ta chắc khỏe.
- Trong mít còn có chứa nhiều chất phytonutrient (lignans, isoflavones và saponins) rất có lợi cho sức khỏe. Những chất này có đặc tính là chống lại ung thư, tăng huyết áp, viêm loét dạ dày và làm chậm lại tiến trình thoái hóa tế bào để đem lại sự tươi trẻ và sức sống cho làn da.
- Ngoài những lợi ích trên, rễ mít còn dùng để chữa bệnh bệnh hen suyễn, tiêu chảy và sốt.
- Gỗ cây mít rất bền chắc, có màu vàng đậm và thường được dùng để xây dựng nhà cửa, đặc biệt là để xây dựng những cung điện hoàng gia ở Bali và nhiều ngôi đền ở Việt Nam. Gỗ cây mít khi luộc chín sẽ cho ra một chất nhuộm màu vàng cam và trước đây rất lâu được những nhà sư dùng để nhuộm áo cà sa.