Chương 2: NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT
2.1 Thành ph ần và tính chất của cao su thiên nhiên
2.1.6 Ý ngh ĩa các chỉ tiê u trong s ản xuất latex cô đặc
Mủ nước là một hỗn hợp lỏng-rắn, hàm lượng chất khô biểu thị tầm quan trọng của phần rắn (cao su và các thành phần phi cao su). Xác định TSC dễ dàng vì chỉ cần làm nước bay hơi và các yếu tố bay hơi ở 70o
Các thành phần phi cao su là: protein, acid amin, muối khoáng, phenol, enzym, kim loại (Mg, Zn, Mn, Cu…) muối vô cơ và các chất bẩn (đất, cát, sạn…)
C, bao hàm trong một trọng lượng mủ nước đã cho và cân phần rắn còn lại.
Trong đó đồng và mangan tự do trong cao su là hai tác nhân kích thích mạnh sự lão hóa của cao su bởi nó xúc tác cho phản ứng oxy hóa, người ta quy định hàm lượng đồng và mangan trong cao su sơ chế không vượt quá 8ppm.[7]
2.1.6.2 Hàm lượng cao su khô( DRC)
Phần hữu ích của mủ nước là cao su khô. Điều này quan trọng về mặt kỹ thuật và thương mại.
Hàm lượng cao su khô là một trong những chỉ tiêu quan trọng của latex ly tâm. Latex vườn cây thường có DRC = 27% ÷ 32% tùy theo mùa, vùng khai thác.
Sau khi ly tâm ta thu được latex cô đặc có DRC khoảng 60%. [7]
2.1.6.3 Chất không phải cao su
Chất không chứa cao su càng ít càng tốt, gồm các chất bẩn (đất, cát, sạn…), kim loại (Mg, Zn, Mn, Cu…), este, ete, protein, pepton, acid amin, muối khoáng, phenol, enzym, muối vô cơ
2.1.6.4 Độ kiềm NH3
Mủ nước vườn cây là một chất không ổn định sẽ đông đặc tự nhiên sau vài giờ nếu không có sự bảo quản đúng đắn. Chất chống đông được sử dụng có thể thuộc nhiều loại khác nhau nhưng chất hay sử dụng cơ bản vẫn là Ammoniac.
Độ kiềm cao thì latex càng ổn định nhưng khi sử dụng thì tốn kém bởi khi sử dụng ta phải trung hòa latex độ kiềm NH3 cao còn dễ tạo thành muối, sản phẩm không ổn định [7].
2.1.6.5 Độ ổn định cơ học
Đặc trưng cho sự đồng đều và ổn định của các hạt latex trong dung dịch latex cô đặc.
Đảm bảo sự phân tán đồng đều các hạt latex trong vận chuyển và lưu trữ.
Nếu MST thấp thì sản phẩm sẽ bị gel hóa.
Độ ổn định cơ học tăng khi ta thêm dung dịch Ammonium Laurat vào sau khi ly tâm, cho Ammonium Laurat vào mủ latex ly tâm là đều cần thiết. liều lượng sử dụng phải được xác định một cách cẩn thận.[7]
2.1.6.6 Trị số Acid béo bay hơi (VFA)
Sự hiện diện của acid béo dễ bay hơi trong mủ nước vườn cây là hệ quả của sự tác động của vi sinh vật lên một số hydrat carbon của serum. Các acid chủ yếu hiện là: (acid acetic, acid fomic, acid propionic). Chỉ số VFA đặc trưng cho lượng acid béo dễ bay hơi chứa trong latex. Các acid béo này thường có số cacbon không lớn và tạo môi trường acid trong latex, trong khi ta phải bảo quản latex trong môi trường kiềm lượng acid này sẽ làm mất kiềm, latex sẽ bị hỏng bởi sự phân hủy của vi khuẩn trong không khí
2.1.6.7 Trị số KOH
Chỉ số KOH cho ta biết về sự hiện diện của các gốc acid phối hợp với Ammoniac bên trong mủ latex. Các gốc acid này là dấu hiệu của sự phân hủy của các yếu tố phi cao su và đặc biệt là protein.
Trị số KOH là số gam kalyhydroxyt cần thiết để trung hòa các gốc acid được liên kết với Ammoniac trong latex chứa 100g tổng hàm lượng chất rắn.
Trị số KOH latex cao su thiên nhiên được tính bằng phần trăm khối lượng theo công thức:
m W
V KOH C
TSC×
×
= 561×
Trong đó:
C: nồng độ thực tế của dung dịch kalyhydroxyt, được biểu thị bằng phân tử lượng KOH/dm3
V: thể tích dung dịch kalyhydroxyt tính bằng cm .
3
WTSC: tổng hàm lượng chất khô của latex tính bằng % khối lượng của latex cô đặc.
.
m: khối lượng của mẫu thử latex, tính bằng gam.
Trị số KOH tăng dần theo thời gian bảo quản bởi vì nếu thời gian lưu trữ càng lâu thì lượng acid sinh ra do sự phân hủy protein càng nhiều. [7]