Chương 3 Đánh giá tác động của hoạt động kinh tế đến động thái nước dưới đất
3.1 Khái quát về động thái nước dưới đất
3.1.4 Một số kết quả nghiên cứu động thái nước dưới đất ở Tp.Hồ Chí Minh
Nước dưới đất của thành phố Hồ Chí Minh đã được khai thác phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt từ những năm đầu của thế kỷ 20. Vào những năm 60 của thế kỷ 20, nước dưới đất khu vực nội thành (Sài Gòn-Gia Định) thành phố Hồ Chí Minh đã khai thác đến 160.000 m3/ngày, và đã làm cho nhiều giếng nước bị nhiễm mặn. Chính vì thế mà việc nghiên cứu về sự thay đổi mực nước vào những năm này đã được nghiên cứu. Một số tác giả như: G.PANERO đã lập 2 bản vẽ một là về ranh mặn nước ngầm 500 mg/l tiến vào nội thành Sài Gòn theo thời gian thời kỳ 1930 – 1960 và diễn biến mực nước ngầm ở khu vực nội thành Sài Gòn từ 1930 – 1960. Brashears (1960) đã vẽ sơ đồ đẳng Cl – 200 mg/l cho 3 thời kỳ khác nhau để xem xét sự dịch chuyển của ranh
này xâm nhập vào phía nội địa mà cụ thể là khu vực nội thành thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn-Gia Định cũ). Trần Hồng Phú và đồng nghiệp (1981) đã tiến hành lấy mẫu nước tại các giếng khai thác nước ở vùng này, sau khi phân tích mẫu nước ông cho rằng ranh Cl – 200 mg/l đã dịch chuyển ra phía biển và đã qua khỏi đường đẳng Cl - 200 mg/l năm 1953 - 1954, nhưng chưa hồi phục lại như những năm 1930 - 1934.
Về nghiên cứu động thái của nước dưới đất trên địa bàn thành phố, thực ra mới được đề cập đến từ 1985, các công trình nghiên cứu có thể kể đến là:
Công trình: Động thái mực nước ngầm khu vực thành phố Hồ Chí Minh. Các kết luận về động thái có thể tóm tắt như sau:
Đối với tầng chứa nước Pleistocen có nguồn cấp chính là nước mưa rơi trên diện phân bố và nước sông. Động thái mực nước thay đổi theo mùa do nó chịu ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố khí tượng thủy văn và nó còn chịu ảnh hưởng của yếu tố nhân tạo là việc khai thác nước. Các giếng quan trắc nằm sát bờ sông như giếng gần cầu Lái Thiêu, cầu Bình Phước, cao su Khánh Hội có mực nước dao động gần như trùng pha với nước sụng, nhưng với biờn độ bằng ẳ của nước sụng.
Đối với tầng chứa nước Pliocen trên, tầng này cũng chịu ảnh hưởng bởi yếu tố khí tượng thủy văn từ xa. Động thái mực nước dao động vào mùa mưa tùy thuộc vào lượng mưa tại chỗ. Nguồn cấp cho tầng chứa nước này ngoài nguồn từ xa còn có nguồn bổ cập tại chỗ do mưa và nước thấm từ tầng chứa nước trên nó. Đối với các giếng quan trắc ở tầng chứa nước này cho thấy biên độ dao động mực nước đồng pha với nước sông. Nhưng biên độ dao động tại các giếng quan trắc xấp xỉ nhau từ 0,5 - 0,75 m, trong khi đó dao động mực nước sông ở vùng Lái Thiêu là 1,0 – 1,5 m và vùng hạ lưu là 3,5 – 4,0 m. Qua đó có thể nhận xét nước của tầng này không trực tiếp quan hệ với nước sông.
Công trình: Báo cáo kết quả lập bản đồ địa chất thủy văn - địa chất công trình Thành phố. Hồ Chí Minh tỷ lệ 1/50.000. Động thái nước dưới đất thành phố. Hồ Chí Minh có các đặc điểm sau:
Trên cơ sở về điều kiện cấp và thoát của tầng chứa nước, động thái nước dưới đất Tp. Hồ Chí Minh đã được chia ra các kiểu động thái: Kiểu động thái phân thủy, kiểu động thái ven sông, kiểu động thái đầm lầy và kiểu động thái biển đối với nước có áp tầng sâu, nguồn cấp theo mùa và nguồn cấp quanh năm.
Kiểu động thái phân thủy là mực nước tăng mạnh và đạt cực đại vào đầu mùa khô, sau đó giảm dần tới mức thấp nhất vào đầu mùa mưa sau. Kiểu động thái này phổ biến ở vùng đồi cao song diện phân bố không lớn. Một trường hợp đặc biệt của kiểu động thái này là nước tích tụ ở giồng cát ven biển, động thái xảy ra tương tự như đã nêu nhưng chỉ trên diện tích nhỏ.
Kiểu động thái sườn phân thủy, kiểu này phổ biến ở nơi chuyển tiếp giữa đỉnh phân thủy đến sông, mực nước dâng chậm và biên độ thấp.
Kiểu động thái ven sông, kiểu này có thể đồng pha với động thái đỉnh hoặc sườn phân thủy và có đặc điểm mực nước tăng phụ thuộc vào mực nước dâng của ao hồ vào mùa mưa. Kiểu này có đặc điểm mực nước hạ vào mùa khô cho đến khi đạt cân bằng giữa dòng bổ cập từ đỉnh phân thủy và dòng thoát ra sông.
Kiểu động thái đầm lầy, kiểu này có sự dao động mực nước hàng năm không đáng kể.
Kiểu động thái biển của nước ngầm được xác lập trên cơ sở phụ thuộc hầu như hoàn toàn vào chế độ thủy triều và thành phần của nước biển. Tùy theo mức độ xa biển mà động thái mực nước có biên độ dao động giảm dần. Đối với nước có áp, mực nước tăng dần vào mùa mưa và giảm cho đến đầu mùa mưa năm sau.
Công trình: Quy hoạch và sử dụng nước ngầm thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện nay, trên địa bàn thành phố việc nghiên cứu động thái nước dưới đất có 3 mạng quan trắc: Mạng quan trắc quốc gia có 39 giếng khoan tại 20 vị trí, 2 mạng quan trắc thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường (1 mạng do Phòng quản lý tài nguyên nước và khoáng sản quản lý, 1 mạng do Chi cục bảo vệ môi trường quản lý) với tổng số giếng quan trắc là 46 giếng tại 16 vị trí. Từ kết quả quan trắc đã rút ra một số kết quả về động thái mực nước, thành phần hóa học và nhiệt độ của nước như sau:
Đối với tầng chứa nước Holocen, đây là tầng chứa nước chịu ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố khí hậu, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của việc khai thác nước từ các tầng chứa nước dưới nó. Động thái mực nước ở khu vực xa vùng khai thác phụ thuộc vào yếu tố khí tượng thủy văn, ở vùng đang khai thác, mực nước của tầng này cũng bị hạ thấp tuy không lớn.
Đối với tầng chứa nước Pleistocen là nước có áp cục bộ, theo tài liệu quan trắc cho thấy mực nước thay đổi mạnh ở phía Tây Bắc thành phố và chịu ảnh hưởng của lượng mưa, áp lực triều. Động thái mực nước thuộc vùng động thái tự nhiên chịu sự chi phối của yếu tố khí tượng thủy văn và chế độ triều xâm nhập sâu vào các sông lớn.
Thành phần hóa học của nước là Clorua – natri, Bicacbonat – natri và thành phần hỗn hợp. Trong vùng phân bố nước nhạt theo tài liệu quan trắc cho thấy độ tổng khoáng hóa giảm theo thời gian, ở các vùng phát triển công nghiệp mạnh cho thấy độ tổng khoáng hóa lại tăng nhẹ.
Đối với tầng chứa nước Pliocen trên, đây là tầng có áp động thái chịu sự chi phối của yếu tố khí tượng nhưng chịu ảnh hưởng rất lớn của việc khai thác nước. Thành phần của nước là Clorua – natri và Bicacbonat – natri. Ở vùng phân bố nước nhạt, độ pH và độ tổng khoáng hóa có xu hướng giảm dần theo thời gian, riêng một số khu vực đô thị hóa lại có độ tổng khoáng hóa tăng nhẹ.
Đối với tầng chứa nước Pliocen dưới là tầng có áp. Động thái mực nước chịu ảnh hưởng của yếu tố khí tượng và chịu tác động mạnh của việc khai thác nước. Thành phần của nước là Clorua – natri hoặc Bicacbonat – natri. Ở vùng phân bố nước nhạt có