Chương 3 Đánh giá tác động của hoạt động kinh tế đến động thái nước dưới đất
3.2 Đánh giá tác động của họat động kinh tế đến động thái nước dưới đất vùng nghiên cứu
3.2.1 Các yếu tố tác động đến động thái nước dưới đất vùng nghiên cứu
3.2.1.2 Hiện trạng khai thác nước dưới đất vùng nghiên cứu
a. Số lượng và mật độ giếng khai thác
Nước dưới đất trên địa bàn vùng nghiên cứu được khai thác để phục vụ đời sống và sản xuất của người dân từ những năm đầu của thế kỷ 20. Theo kết quả điều tra và thống kê về hiện trạng khai thác nước dưới đất, hiện nay vùng nghiên cứu có khoảng 5083 giếng khai thác với đường kính và độ sâu khác nhau. Các giếng khai thác phân bố chủ yếu ở hai tầng chứa nước đó là tầng Pleistocen và tầng Pliocen trên, mật độ trung bình là 24 giếng/km2 (xem hình 3.4, 3.5, 3.6, bảng 3.6, 3.7).
Bảng 3.6: Hiện trạng khai thác nước dưới đất vùng nghiên cứu
Số
TT Quận
Giếng khoan khai
thác nước (giếng) Lưu lượng khai thác (m3/ngày)
Tổng m42 Qp Tổng m42 Qp S/xuất S/hoạt 1 2 493 224 269 3758,2 3153,7 604,5 2978,0 780,2 2 9 764 83 681 14940,3 13958,7 981,6 13985,5 954,8 3 Thủ Đức 3826 2602 1224 52306,2 39843,4 12462,8 41651 10655,2 Vùng nghiên cứu 5083 2909 2174 71004,7 56955,8 13048,9 58614,5 12390,2
Bảng 3.7: Mật độ phân bố giếng khai thác nước dưới đất tầng chứa nước Pleistocen và Pliocen trên
Số
TT Quận
Diện tích (km2)
Số dân (người)
Số giếng khoan khai
thác
Số giếng khoan/km2
Mật độ chung (giếng Trên 1km2)
Số giếng khoan
Trên 1000 người Qp m42 Qp m42
1 2 49,74 126.084 269 224 5,4 4,5 9,9 3,9 2 9 114 207.696 681 83 6,0 0,7 6,7 3,7 3 Thủ Đức 47,76 346.571 1224 2602 25,6 54,5 80,1 11,04 Vùng nghiên cứu 211,5 680.109 2164 2787 12,3 19,9 32,5 6,23
5.4 6
25.6
4.5 0.7
54.5
0 10 20 30 40 50 60
2 9 Thủ Đức
Quận Giếng/km2
qp m42
Hình 3.5: Mật độ phân bố giếng khai thác vùng nghiên cứu
604.5 981.6
12462.8 3153.7
13958.7
39843.4
0 10000 20000 30000 40000 50000
2 9 Thủ Đức
Quận m3/ngày
qp m42
Hình 3.6: Lưu lượng khai thác nước vùng nghiên cứu
Dựa vào các bảng và các hình ở trên ta thấy:
Theo các đơn vị chứa nước:
- Tầng Pleistocen có 2.174 giếng chiếm 42,8% tổng số giếng khoan khai thác của vùng nghiên cứu với mật độ là 12,3 giếng/km2.
- Tầng Pliocen trên có 2.787 giếng chiếm 57,2% tổng số giếng khoan khai thác của vùng nghiên cứu với mật độ là 19,9 giếng/km2.
Theo đơn vị quận ta thấy:
- Quận 2 có 493 giếng chiếm 9,7% tổng số giếng khoan khai thác của vùng nghiên cứu, trong đó tầng Pleistocen có 269 giếng với mật độ 5,4 giếng/km2, tầng Pliocen trên có 224 giếng với mật độ là 4,5 giếng/km2.
- Quận 9 có 764 giếng chiếm 15,03% tổng số giếng khoan khai thác của vùng nghiên cứu, trong đó tầng Pleistocen có 681 giếng với mật độ 6,0 giếng/km2, tầng Pliocen trên có 83 giếng với mật độ là 0,7 giếng/km2.
- Quận Thủ Đức có 3826 giếng chiếm 75,27% tổng số giếng khoan khai thác của vùng nghiên cứu, trong đó tầng Pleistocen có 1224 giếng với mật độ 25,6 giếng/km2, tầng Pliocen trên có 2602 giếng với mật độ là 54,5 giếng/km2.
Nếu tính số giếng khai thác trên 1000 người ta thấy: Vùng nghiên cứu có mật độ chung là 6,23 giếng/1000 người, trong đó quận 2 là 3,9 giếng/1000 người, quận 9 là 3,7 giếng/1000 người và Thủ Đức là 11,05 giếng/1000 người.
Tổng số giếng khoan khai thác bị hư hỏng ước tính khoảng 126 giếng chiếm 2,47% tổng số giếng đã điều tra.
Theo số liệu điều tra hiện trạng khai thác nước trên toàn thành phố [3], số giếng khoan khai thác của vùng nghiên cứu tăng dần theo thời gian và bùng nổ vào sau năm 1991. Đây chính là thời kỳ đổi mới rất mạnh mẽ của thành phố nói chung và vùng nghiên cứu nói riêng, tốc độ đô thị hóa diễn ra rất nhanh, nhiều cơ sở sản xuất được thành lập. Năm 1997, lao động công nghiệp là 42.000 người, đến năm 2005 đã tăng lên là 62.962 người. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của vùng tăng trưởng rất nhanh, năm 1995 là 118 tỷ đồng, đến năm 2005 tăng lên là 9.737,225 tỷ đồng. Sự tăng dân số của vùng nghiên cứu cũng là một trong những nguyên nhân là tăng nhu cầu nước. Tỷ lệ tăng dân số bình quân của vùng nghiên cứu tăng nhanh, thời kỳ 1979 – 1989 tỷ lệ này là 1,96% đến thời kỳ 1999 – 2004 tăng lên là 6,21% [17]. Thêm vào đó là sự phát triển mạnh mẽ của ngành thường mại – dịch vụ với tốc độ tăng trưởng bình quân là 30%/năm. Doanh thu thương mai – dịch vụ năm 1995 là 920 tỷ đồng, đến năm 2005 tăng lên 7.179,662 tỷ đồng. Nhu cầu khai thác, sử dụng nước phục vụ cho các hoạt động trên ngày càng tăng trong khi cơ sở hạ tầng cấp thoát nước còn yếu kém. Do đó việc khai thác nguồn nước dưới đất nhằm đáp ứng các nhu cầu đó là lẽ đương nhiên, chính lý do đó mà số lượng giếng khoan khai thác nước tăng mạnh theo thời gian.
b. Lưu lượng khai thác, mục đích khai thác sử dụng Lưu lượng khai thác
Tổng lượng nước khai thác được từ 5083 giếng là 71.004,7 m3/ngày. Theo các đơn vị chứa nước lưu lượng khai thác nước tầng Pleistocen là 13.048,9 m3/ngày, tầng Pliocen trên là 56.955,8 m3/ngày. Xem xét lưu lượng khai thác nước dưới đất theo từng quận ta thấy:
- Quận 2 có tổng lưu lượng khai thác là 3.758,2 m3/ngày chiếm 5,29% tổng lưu lượng khai thác của vùng nghiên cứu, trong đó tầng Pleistocen là 604,5 m3/ngày, tầng Pliocen là 3.153,7 m3/ngày.
- Quận 9 có tổng lưu lượng khai thác là 14.940,3 m3/ngày chiếm 21,04% tổng lưu lượng khai thác của vùng nghiên cứu, trong đó tầng Pleistocen là 981,6 m3/ngày, tầng Pliocen là 13.958,7m3/ngày.
- Quận Thủ Đức có tổng lưu lượng khai thác là 52.306,2 m3/ngày chiếm 73,67%
tổng lưu lượng khai thác của vùng nghiên cứu, trong đó tầng Pleistocen là 12.462,8 m3/ngày, tầng Pliocen là 39.843,4 m3/ngày.
Mục đích khai thác, sử dụng
Nước dưới đất được khai thác sử dụng cho 2 mục đích chính: cho sản xuất và cho sinh hoạt. Tất nhiên khai thác nước cấp cho sản xuất ở đây mang nghĩa rộng bao gồm sản xuất công nghiệp, sản xuất nông nghiệp và các ngành có tính chất sản xuất. Nước khai thác cho sinh hoạt gồm nước cho tắm giặt, nước cho ăn uống. Theo số liệu thống kê (bảng 3.6), trong số 71.004,7 m3 nước khai thác trong một ngày có 58.614,5 m3 nước chiếm 82,6% tổng lượng nước khai thác được sử dụng cho mục đích sản xuất, 12.390,2 m3 nước còn lại được dùng cho sinh hoạt.
c. Chất lượng nước khai thác
Chất lượng nước dưới đất được đánh giá phân loại theo tiêu chuẩn xây dựng TCXD 233-1999 (bảng 5.1, phụ lục 5). So với các tiêu chuẩn TCVN 5944 – 1995 (phụ lục 4) tiêu chuẩn này có ưu điểm là chỉ ra từng loại nguồn nước đáp ứng ở các mức độ khác nhau của nhu cầu ăn uống sinh hoạt, gợi ý mức độ xử lý và cảnh báo các trường hợp không được sử dụng cho mục đích ăn uống và sinh hoạt. Do vậy sử dụng TCXD để đánh giá phân loại nguồn nước dưới đất lấy từ các giếng quan trắc là phù hợp.
Kết quả phân tích các mẫu nước dưới đất giám sát theo mùa khô và mùa mưa trong năm 2005 của Sở TN & MT Tp. Hồ Chí Minh cho thấy chất lượng nước khai thác của mỗi tầng chứa nước như sau:
Đối với tầng Pleistocen
Có tổng cộng 13 mẫu nước quan trắc chất lượng nước từ các công trình khai thác nước của vùng nghiên cứu, trong đó có 7 mẫu phân tích thành phần hóa học (mùa khô 3 mẫu, mùa mưa 4 mẫu), 2 mẫu phân tích vi lượng (1 mẫu mùa khô, 1 mẫu mùa mưa)
và 4 mẫu phân tích vi sinh (2 mẫu mùa khô, 2 mẫu mùa mưa). Về mặt hóa học có 8 chỉ tiêu được phân tích, về mặt vi lượng có 8 chỉ tiêu được phân tích, về mặt vi sinh có 5 chỉ tiêu được phân tích.
Kết quả phân tích thành phần hóa học và vi lượng được thể hiện trong (bảng 3.8, 3.9) dưới đây:
Bảng 3.8: Tổng hợp kết quả phân tích thành phần hóa học nước dưới đất tầng Pleistocen
STT Quận SHCT Mùa pH NH4+
mg/l Fe2+
mg/l Fe3+
Mg/l Cl- mg/l
SO2-4
mg/l
NO-3
mg/l NO2-
mg/l
1
LTrung TĐức
09- 02C
K05 6,14 0,00 0,1 0,01 8,86 16,81 6,35 0,05 M05 6,57 0,08 0,05 0,03 6,38 21,61 5,45 0,01 2 Sân
golf,TĐ 10A M05 5,86 1,9 0,00 0,06 7,09 4,32 1,92 2,14
3 Thạnh Mỹ Lợi
Q2
11B
K05 5,09 0,2 3,86 0,01 256,88 7,2 0,8 0,00 M05 4,32 0,08 0,01 0,08 101,03 3,84 0,45 0,00
4 M1A
K05 5,49 0,1 0,6 0,14 27,65 6,24 1,02 0,01 M05 4,35 0,11 0,01 0,12 26,59 5,76 0,43 0,00
Bảng 3.9: Kết quả phân tích vi lượng nước dưới đất tầng Pleistocen
SHCT Mùa Ngày lấy
Cu l g/
Pb l g/
Hg l g/
Cd l g/
As l g/
Mn mg/l
Phenol l g/
Cn l g/
M1A
Khô 21/6/05 1,5 3,73 0,00 2,98 1,57 0,24 0,88 0,47 Mưa 7/11/05 0,87 0,94 0,77 3,41 0,84 0,09 0,27 1,04
Phân loại nguồn nước dưới đất tầng Pleistocen vào mùa mưa và mùa khô được tổng hợp ở (phụ lục 9). Kết quả phân loại nguồn nước này được trình bày ở (bảng 3.10) dưới đây:
Bảng 3.10: Kết quả phân loại nguồn nước dưới đất tầng Peistocen vào mùa mưa và mùa khô 2005
Loại pH Clorua Sunfat Nitrit Nitrat Fe tồng Mangan Amonium Xianua Phenol Asen Cadmi Th ngân Đồng Chì
MÙA KHÔ 2005 Tổng
số 3 3 3 3 3 3 1 3 1 1 1 1 1 1 1
A 0 1 3 1 1 2 0 1 0 0 0 0 1 1 0
B 1 1 0 2 1 1 1 2 1 0 1 0 0 0 1
C 2 1 0 0 1 0 0 0 0 1 0 1 0 0 0
>C 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
MÙA MƯA 2005 Tổng
số 4 4 4 4 4 4 1 4 1 1 1 1 1 1 1
A 0 2 4 2 0 4 0 0 0 0 0 0 0 1 0
B 1 2 0 1 4 0 1 4 1 1 1 0 0 0 1
C 1 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 1 1 0 0
>C 2 0 0 1 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
Qua các bảng trên ta thấy chất lượng nước khai thác tầng Pleistocen của vùng nghiên cứu có đặc điểm như sau:
Đối với thành phần hóa học nước dưới đất:
- Về pH: có 0/7 mẫu đạt loại A, 2/7 mẫu đạt loại B, 3/7 mẫu đạt loại C và 2/7 mẫu vượt giới hạn loại C. Nhìn chung độ pH thay đổi khoảng 5,09 – 6,57. Riêng 2 lỗ khoan 11B và M1A ở Thạnh Mỹ Lợi – quận 2 vào mùa mưa nước đều vượt quá giới hạn loại C.
- Hầu hết các mẫu nước dưới đất có hàm lượng clorua giao động từ 6,38 – 101,03 trong đó có 3/7 mẫu đạt loại A, 3/7 mẫu đạt loại B, riêng mẫu nước ở lỗ khoan 11B – Thạnh Mỹ Lợi, quận 2 hàm lượng Cl tăng đột biến đến 256,88 mg/l đạt loại C.
- Toàn bộ các mẫu nước dưới đất đều có hàm lượng sunfat đạt loại A - Nitrat có 1/7 mẫu đạt loại A, 5/7 mẫu đạt loại B, 1/7 mẫu đạt loại C.
- Nitrit có 3/7 mẫu đạt loại A, 3/7 mẫu đạt loại B, 0/7 mẫu đạt loại C, 1/7 mẫu vượt dưới hạn loại C, mẫu này được phát hiện vào mùa mưa ở lỗ khoan 10A – sân golf Thủ Đức.
- Về tổng sắt: có 6/7 mẫu đạt loại A, 1/7 mẫu đạt loại B, không có mẫu đạt loại C.
Hầu hết các mẫu phân tích đều có hàm lượng sắt tổng cộng thay đổi trong khoảng 0,06 – 0,74 mg/l.
- Có 6/7 mẫu đạt loại B có hàm lượng amonium thay đổi từ 0,00 – 0,11 mg/l, 1/7 mẫu đạt loại A, 0/7 mẫu đạt loại C.
Đối với thành phần vi lượng nước dưới đất:
- Có 2/2 mẫu phân tích đạt loại A về chỉ tiêu đồng.
- Có 2/2 mẫu phân tích đạt loại B về chỉ tiêu mangan, xianua, asen, chì.
- Có 2/2 mẫu phân tích đạt loại C về chỉ tiêu cadimi.
- Về phenol: có 1/2 mẫu đạt loại B, 1/2 mẫu đạt loại C được phát hiện vào mùa khô tài lỗ khoan M1A- Thạnh Mỹ Lợi, quận 2.
- Về thủy ngân: có 1/2 mẫu đạt loại A, 1/2 mẫu đạt loại C.
Về mặt vi trùng, các chỉ tiêu vi sinh trong các mẫu nước dưới đất được đánh giá theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5502 – 1991 (phụ lục 6). Năm 2005, có 4 mẫu phân tích vi sinh chia làm 2 đợt, 2 mẫu mùa khô, 2 mẫu mùa mưa, trong đó có 5 chỉ tiêu được phân tích. Kết quả phân tích mẫu vi sinh được trình bày trong (bảng 3.11). Từ bảng đó cho thấy:
- Vào mùa khô, các mẫu phân tích đều đạt TCCP về các chỉ tiêu TSVK kị khí sinh H2S 370C/24h/g, Escherichia coli, Coliformes Foec, Streptocoscus foecalic, TS coliformes 370C/48h.
- Vào mùa mưa, có 1/2 mẫu có chỉ tiêu đạt; 1/2 mẫu có chỉ tiêu TSVK kị khí sinh H2S 370C/24h/g và Streptocoscus foecalic không đạt, mẫu này được phát hiện ở lỗ khoan 09 – 02C (Linh Trung – Thủ Đức).
Bảng 3.11: Kết quả phân tích mẫu vi sinh tầng Pleistocen
STT SHCT Mùa
TSVK kị khí sinh
H2S 370C/24h/
g Germ/ml
Escherichia coli Germ/100ml
Coliformes Foec Germ/100ml
Streptocoscu s foecalic Germ/100ml
TS coliformes
370C/48h Germ/100
ml
Kết luận theo TCVN 5502/91 (đạt/không) 1 09-
02C TĐ
K05 0 0 0 0 0 Đạt
2 M05 3 0 0 4 0 Không
3 11B Quận
2
K05 0 0 0 0 0 Đạt
4 M05 0 0 0 0 0 Đạt
Tóm lại: Qua các kết quả phân tích ở trên ta thấy, chất lượng nước khai thác ở tầng Pleistocen có pH thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn nước loại B. Nước có thành phần hợp chất Nitrat cao. Trong nước đã sự hiện diện các vi khuẩn kị khí sinh H2S 370C/24h/g và vi khuẩn Streptocoscus foecalic. Ngoài ra trong nước dưới đất còn có một số kim loại nặng và các chất độc hại khác như: thủy ngân, phenol, cadimi…có hàm lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn nước loại B. Đây chính là cơ sở để đánh giá tác động của hoạt động sản xuất đặc biệt là hoạt động sản xuất công nghiệp đến chất lượng nước ngầm.
Đối với tầng chứa nước Pliocen trên
Có tổng cộng 17 kết quả phân tích mẫu nước từ các công trình khai thác nước trong tầng chứa nước này, trong đó có 6 mẫu phân tích thành phần hóa học (3 mẫu mùa khô, 3 mẫu mùa mưa), 6 mẫu phân tích vi lượng (3 mẫu mùa khô, 3 mẫu mùa mưa) và 5 mẫu phân tích vi sinh (2 mẫu mùa khô, 3 mẫu mùa mưa). Về mặt thành phần hóa học có 8 chỉ tiêu được phân tích, về mặt kim loại nặng có 8 chỉ tiêu được phân tích, về mặt vi sinh có 5 chỉ tiêu được phân tích.
Kết quả phân tích thành phần hóa học và vi lượng được thể hiện trong các (bảng 3.12, 3.13) dưới đây:
Bảng 3.12 : Tổng hợp kết quả phân tích thành phần hóa học nước dưới đất tầng Pliocen trên
STT Quận SHCT Mùa pH NH4+
mg/l Fe2+
mg/l Fe3+
mg/l Cl- mg/l
SO2-4
mg/l
NO-3
mg/l NO2-
mg/l
1
LTrung TĐức
09- 02T
K05 5,79 0,05 0,05 0,05 8,15 6,24 6,00 0,00 M05 5,65 0,09 0,01 0,13 7,09 4,8 5,28 0,02
2
Sân gofl TĐ
10B
K05 5,23 0,00 0,03 0,01 8,86 7,20 13,73 0,00 M05 4,38 0,06 0,03 0,01 7,09 5,72 10,16 0,00
3
Thạnh Mỹ Lợi Q2
11A
K05 5,78 0,08 0,05 0,06 4,80 0,84 0,00 0,00 M05 4,35 0,24 0,01 0,04 35,45 4,80 0,47 0,00
Bảng 3.13: Tổng hợp kết quả phân tích vi lượng nước dưới đất tầng Pliocen trên
TT SHCT Mùa Ngày lấy
Cu l g/
Pb l g/
Hg l g/
Cd l g/
As l g/
Mn mg/l
Phenol l g/
Cn l g/
1 09- 02T
K05 20/9/05 0,87 0,00 0,83 3,15 0,00 0,09 1,38 1,61 M05 7/11/05 3,99 0,66 0,59 3,26 0,00 0,04 0,00 3,40
2 10B
K05 21/6/05 1,18 0,00 0,00 1,19 0,95 0,04 0,00 0,83 M05 7/11/05 4,31 0,66 0,83 3,24 0,31 0,00 0,00 0,19
3 11A
K05 21/6/05 20,23 0,00 0,00 2,55 3,67 1,19 2,20 0,83 M05 7/11/05 21,48 0,80 0,30 3,63 0,00 0,35 0,00 0,64
Phân loại nguồn nước dưới đất tầng Pliocen trên vào mùa mưa và mùa khô được tổng hợp ở (phụ lục 10). Kết quả phân loại nguồn nước này được trình bày ở (bảng 3.14, 3.15) dưới đây:
Bảng 3.14: Kết quả phân loại chất lượng nguồn nước dưới đất tầng Pliocen trên vào mùa khô và mùa mưa 2005
Loại pH Clorua Sunfat Nitrit Nitrat Fe tồng Mangan Amonm Xianua Phenol Asen Cadmi Thủy ngân Đồng Chì
MÙA KHÔ 2005 Tổ
ng
3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3
A 0 3 3 3 0 2 1 1 0 1 1 0 2 3 3
B 0 0 0 0 1 1 2 2 3 0 2 0 0 0 0
C 3 0 0 0 1 0 0 0 0 2 0 3 1 0 0
>C 0 0 0 0 1 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
MÙA MƯA 2005 Tổ
ng
3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3 3
A 0 2 3 2 0 3 2 0 0 3 2 0 0 3 0
B 0 1 0 1 2 0 1 3 3 0 1 0 0 0 3
C 1 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 3 3 0 0
>C 2 0 0 0 1 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
Qua các bảng trên ta thấy thành phần hóa học và vi lượng trong nước của tầng chứa nước Pliocen trên của vùng nghiên cứu có đặc điểm như sau:
Đối với thành phần hóa học nước dưới đất:
- Về pH: có 4/6 mẫu đạt loại C, 2/6 mẫu vượt giới hạn loại C. Nhìn chung độ pH thay đổi khoảng 4,35 – 5,79. Riêng 2 lỗ khoan 10B (sân Golf - Thủ Đức) và lỗ khoan 11A (Thạnh Mỹ Lợi – quận 2) vào mùa mưa nước đều vượt quá giới hạn loại C.
- Hầu hết các mẫu nước dưới đất có hàm lượng clorua giao động từ 2,80 – 8,86 mg/l chiếm 5/6 mẫu đạt loại A, còn 1/6 mẫu đạt loại B.
- Toàn bộ các mẫu nước dưới đất đều có hàm lượng sunfat đạt loại A
- Nitrat có 0/6 mẫu đạt loại A, 3/6 mẫu đạt loại B, 1/6 mẫu đạt loại C và 2/6 mẫu vượt quá giới hạn nước loại C, 2 mẫu này đều được phát hiện ở lỗ khoan 10B (sân Golf Thủ Đức) vào cả mùa mưa và mùa khô.
- Nitrit có 5/6 mẫu đạt loại A, 1/6 mẫu đạt loại B, không có mẫu đạt loại C và vượt quá giới hạn loại C.
- Về tổng sắt: có 5/6 mẫu đạt loại A, 1/6 mẫu đạt loại B, không có mẫu đạt loại C.
Hầu hết các mẫu phân tích đều có hàm lượng sắt tổng cộng thay đổi trong khoảng 0,04 – 0,14 mg/l.
- Có 1/6 mẫu đạt loại A, 5/6 mẫu đạt loại B có hàm lượng amonium thay đổi từ 0,05 – 0,24 mg/l, không có mẫu đạt loại C và lớn hơn C.
Đối với thành phần vi lượng nước dưới đất:
- Có 6/6 mẫu phân tích đạt loại A về các chỉ tiêu đồng.
- Có 6/6 mẫu phân tích đạt loại B về chỉ tiêu xianua.
- Có 6/6 mẫu phân tích đạt loại C về chỉ tiêu cadimi.
- Về phenol: có 4/6 mẫu đạt loại A, 0/6 mẫu đạt loại B, 2/6 mẫu đạt loại C được phát hiện vào mùa khô tại lỗ khoan 09 – 02C (Linh Trung – Thủ Đức) và lỗ khoan 11A (Thạnh Mỹ Lợi – quận 2).
- Về thủy ngân: có 2/6 mẫu đạt loại A, 0/6 mẫu đạt loại B, 4/6 mẫu đạt loại C được phát hiện tại cả 3 lỗ khoan trên địa bàn vùng nghiên cứu. Đặc biệt là tại lỗ khoan 09-02C (Linh Trung – Thủ Đức), hàm lượng thủy ngân đạt loại C vào cả mùa mưa và mùa khô.
- Về mangan, asen và chì: có 3/6 mẫu đạt loại A, 3/6 mẫu đạt loại B, không có mẫu đạt loại C.
Về mặt vi trùng, các chỉ tiêu vi sinh trong các mẫu nước dưới đất được đánh giá theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5502 – 1991 (phụ lục 6). Năm 2005, có 5 mẫu phân tích vi sinh chia làm 2 đợt, 2 mẫu mùa khô, 3 mẫu mùa mưa, trong đó có 5 chỉ tiêu được phân tích. Kết quả phân tích mẫu vi sinh được trình bày trong (bảng 3.15) dưới đây:
Bảng 3.15: Kết quả phân tích mẫu vi sinh tầng Pliocen trên
TT SHCT Mùa
TSVK kị khí sinh H2S
370C/24h/g Germ/ml
Escherichia coli Germ/100ml
Coliformes Foec Germ/100ml
Streptocosc us foecalic Germ/100m l
TS coliformes 370C/48h Germ/100 ml
Kết luận theo TCVN 5502/91 (đạt/không) 1
11A
K05 1 0 0 0 0 Không
2 M05 0 0 0 0 0 Đạt
3
10B K05 0 0 0 0 0 Đạt
4 M05 1 0 0 0 0 Không
5 09-02T M05 0 0 0 0 0 Đạt
Từ bảng trên cho thấy:
- Vào mùa khô, 1/2 mẫu có chỉ tiêu đạt, 1/2 mẫu có chỉ tiêu không đạt do có sự xuất hiện của vi khuẩn kị khí sinh H2S 370C/24h/g được phát hiện ở lỗ khoan 11A (Thạnh Mỹ Lợi – quận 2).
- Vào mùa mưa, có 1/2 mẫu có chỉ tiêu đạt; 1/2 mẫu có chỉ tiêu không đạt do sự có mặt của vi khuẩn kị khí sinh H2S 370C/24h/g, mẫu này được phát hiện vào mùa mưa ở lỗ khoan 10B (Linh Trung – Thủ Đức).
Tóm lại: Từ các kết quả phân tích ở trên cho thấy, chất lượng nước khai thác ở tầng Pliocen trên có pH thấp hơn nhiều so với nguồn nước loại B. Nước có thành phần hợp chất Nitrat cao. Trong nước đã có sự hiện diện các vi khuẩn kị khí sinh H2S 370C/24h/g. Ngoài ra trong nước dưới đất còn có một số kim loại nặng và các chất độc hại khác như: thủy ngân, phenol, cadimi…có hàm lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép nguồn nước loại C. Theo nhận định của các chuyên gia trong lĩnh vực này, lần đầu tiên trên địa bàn vùng nghiên cứu có hiện tượng nước nhiễm vi sinh vào mùa mưa (CTQT:10B).