Ảnh hưởng của hoạt động kinh tế đến yếu tố động thái mực nước

Một phần của tài liệu kl luu thi hai ly 610476b (Trang 45 - 61)

Chương 3 Đánh giá tác động của hoạt động kinh tế đến động thái nước dưới đất

3.2 Đánh giá tác động của họat động kinh tế đến động thái nước dưới đất vùng nghiên cứu

3.2.2 Ảnh hưởng của hoạt động kinh tế đến động thái nước dưới đất vùng nghiên cứu

3.2.2.1 Ảnh hưởng của hoạt động kinh tế đến yếu tố động thái mực nước

Theo kết quả thống kê ở trên, mỗi ngày vùng nghiên cứu khai thác 58.614,5 m3 nước phục vụ cho sản xuất đưa tổng lượng nước khai thác của vùng lên 71004,5 m3. Con số này xấp xỉ khả năng khai thác của vùng nghiên cứu là khoảng 83.039 m3/ngày.

Với một lưu lượng khai thác nước lớn như vậy, việc khai thác nước dưới đất đã tác động mạnh đến mực nước dưới đất của các tầng chứa nước trong vùng nghiên cứu. Sự ảnh hưởng đó được trình bày trong phần dưới đây.

a. Đối với tầng chứa nước Pleistocen:

Kết quả nghiên cứu về động thái mực nước dưới đất của vùng nghiên cứu năm 1984 – 1994 [12] cho thấy: mực nước ở tầng này ít có sự thay đổi, điều này phù hợp với thực tế tầng chứa nước ít được khai thác vào thời điểm đó. Khu vực Giồng Ông Tố (Bình Trưng – quận 2) đã xuất hiện mực nước 0 m xung quanh giồng cát, trên diện phân bố của giồng xuất hiện mực nước dưới 0m. Từ năm 1994 – 2003, mực nước có sự hạ thấp 3 m ở vùng giáp ranh giữa Thủ Đức và quận 9, còn quận 2 mực nước hạ thấp không đáng kể [11].

Theo tài liệu quan trắc động thái mực nước của Sở TN & MT Tp. Hồ Chí Minh, vùng nghiên cứu có 4 công trình quan trắc được bố trí ở tầng Pleistocen. Kết quả quan trắc mực nước từ năm 2000 đến năm 2005, được tổng hợp ở các (Bảng 3.16), (Hình 3.7).

Bảng 3.16: Cao độ mực nước tầng Pleistocen (Qi-iii) các trạm quan trắc vùng nghiên cứu:

CT Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 09-02C 17,13 15,92 16,05 16,34 16,11 16,48

10A 7,64 6,98 5,7 4,38 5,58 4,05 11B - 0,47 - 1,26 - 1,64 - 2,04 - 2,41 - 2,73 M1A 3,04 2,10 1,81 1,70 1,52 1,93

-6.00 -3.00 0.00 3.00 6.00 9.00 12.00 15.00 18.00 21.00

2000 2001 2002 2003 2004 2005

Năm Mc nước (m)

09-02C Q(I-III) 10A Q(I-III) 11A Q(I-III) M1A Q(I-III)

Hình 3.7: Biểu đồ cao độ mực nước tầng Pleistocen các trạm quan trắc vùng nghiên cứu

Dựa vào các bảng và hình ở trên ta thấy: nhìn chung mực nước tại các trạm quan trắc tầng Pleistocen dao động theo xu hướng giảm dần với mức độ thay đổi không lớn, lí do là vì vùng này có các giếng khoan khai thác dùng cho trong sản xuất va sinh hoạt có với lưu lượng khai thác chỉ chiếm 18,38% tổng lượng nước khai thác của vùng nghiên cứu. Độ chênh lệch mực nước thay đổi từ 0,65 – 3,59 m tùy thuộc vị trí quan trắc.

Vùng có mực nước thay đổi lớn nhất là ở sân Golf – Thủ Đức, từ năm 2000 đến năm 2005 mực nước hạ thấp 3,59 m, trung bình giảm 0,718 m/năm. Nguyên nhân của sự hạ thấp mực nước này là do vùng sân Gofl Thủ Đức hằng ngày đã khai thác một lưu lượng nước dưới đất khá lớn để phục vụ cho các hoạt động tưới nước cho sân Gofl, sân tập, vườn hoa, nấu nướng sinh hoạt trong nhà hàng, khách sạn, biệt thự, nhà nghỉ, hồ bơi…Lưu lượng nước ngầm khai thác mỗi ngày ước tính là 2600 m3/ngày, trong đó nước giếng hố đào là 1980 m3/ngày, nước giếng công nghiệp là 620 m3/ngày (Nguồn:

Báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án Khu du lịch tổng hợp sân Gofl Lâm Viên thành phố Hồ Chí Minh). Giếng công nghiệp lấy nước từ tầng Pliocen trên có gây ảnh hưởng gián tiếp đến mực nước của tầng chứa nước ở trên nó là tầng Pleistocen.

Xét sự thay đổi mực nước dưới đất tại các trạm quan trắc trong khoảng từ năm 2000 đến 2005 ta thấy:

- Tại Linh Trung – Thủ Đức (lỗ khoan: 09 – 02C), mực nước dao động không ổn định. Năm 2001, mực nước hạ thấp nhất, sau đó mực tăng tăng dần đến năm 2005, năm sau cao hơn năm trước. Tuy nhiên năm 2005 so với 5 năm trước, mực nước giảm 0,65 m.

- Tại sân Golf – Thủ Đức (lỗ khoan 10A), nhìn chung mực nước dao động theo chiều giảm dần, năm sau thấp hơn năm trước. Độ chênh lệch mực nước giữa các năm thay đổi từ 0,66 – 1,53 m. Năm 2005 so với 5 năm trước, mực nước giảm 3,59 m, trung bình giảm 0,718 m/năm (hình 3.8)

- Tại Thạnh Mỹ Lợi - quận 2 có 2 trạm quan trắc (11B, M1A), nhìn chung mực nước dao động theo chiều hướng giảm dần, mực nước năm sau thấp hơn năm trước.

Độ chênh lệch mực nước giữa các năm thay đổi từ 0,11 – 0,94 m và có sự giảm dần theo từng năm. Trong 5 năm, mực nước giảm từ 1,11 - 2,26 m, trung bình giảm 0,22 - 0,452 m/năm (hình 3.9).

0 1 2 3 4 5 6 7 8 9

1 2001

5 9 1

2002

5 9 1

2003

5 9 1

2004

5 9 1

2005Tháng Mc nước (m)

10A 10B

Hình 3.8: Biểu đồ cao độ mực nước tại trạm quan trắc Sân Golf – Thủ Đức

-4 -3 -2 -1 0 1 2 3 4

1 2001

3 5 7 9 11 1 2002

3 5 7 9 11 1 2003

3 5 7 9 11 1 2004

3 5 7 9 11 1 2005

3

Tháng

Mc nước (m)

11A 11B M1 A

Hình 3.9: Biểu đồ cao độ mực nước tại trạm quan trắc Thạnh Mỹ Lợi - Quận 2 b. Đối với tầng chứa nước Pliocen trên

Kết quả nghiên cứu về động thái mực nước dưới đất của tầng Pliocen trên vùng nghiên cứu năm 1984 – 1994 [12] cho thấy: năm 1984, bản đồ đẳng mực nước cho chúng ta xác định hướng chảy của dòng ngầm là chảy từ Đông Bắc về Tây Nam.

Nhưng năm 1994, mực nước đã tạo thành một đường phân thủy nằm vắt ngang trung tâm và chạy gần song song với hướng chảy của sông Sài Gòn. Dòng ngầm từ đường phân thủy chảy về hai hướng Đông Bắc và hướng Tây Nam. Khu vực phường Linh Xuân – Thủ Đức hình thành một phểu hạ thấp mực nước có mực nước -6 m, điều này phù hợp với thực tế là các cơ sở sản xuất ở đây đã khai thác nước dưới đất với lưu lượng lớn để phục vụ cho sản xuất đã làm cho mực nước của tầng chứa nước này bị hạ thấp đáng kể. Từ năm 1994 – 2003, mực nước có sự hạ thấp 3 m ở vùng giáp ranh giữa Thủ Đức và quận 9, còn quận 2 mực nước hạ thấp không đáng kể [11].

Theo tài liệu quan trắc động thái mực nước của Sở TN & MT Tp. HCM, vùng nghiên cứu có 3 công trình quan trắc được bố trí ở tầng Pliocen trên. Kết quả quan trắc mực nước từ năm 2000 đến năm 2005, được tổng hợp ở các (Bảng 3.17), (Hình 3.9).

Bảng 3.17: Bảng cao độ mực nước tầng Pliocen trên (Nb2) các trạm quan trắc vùng nghiên cứu:

CT Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 09-02T -8,24 -16,87 -18,89 -20,30 -20,47

10B 6,79 5,71 4,06 3,11 3,90 2,23 11B -0,08 -0,98 -1,51 -1,86 -2,34 -2,56

-24.00 -21.00 -18.00 -15.00 -12.00 -9.00 -6.00 -3.00 0.00 3.00 6.00 9.00

2000 2001 2002 2003 2004 2005

Năm Mc nước (m)

09-02T 10B 11B

Hình 3.10: Biểu đồ cao độ mực nước tầng Pliocen trên các trạm quan trắc VNC Từ các bảng và hình ở trên ta thấy: Nhìn chung mực nước tại các trạm quan trắc tầng Pliocen trên có sự giảm mạnh, năm sau thấp hơn năm trước. Nguyên nhân là do nước dưới đất trong tầng này được khai thác tập trung với lưu lượng lớn. Mỗi ngày vùng nghiên cứu khai thác khoảng 56.955,8 m3 nước để phục vụ chủ yếu cho các hoạt động sản xuất. Con số này chiếm 81,6% tổng lượng nước khai thác trên địa bàn vùng nghiên cứu. Độ chênh lệch mực nước giữa các năm quan trắc thay đổi từ 0,17 – 2,02 m, tuy nhiên độ chênh lệch này có xu hướng giảm dần theo các năm. Trong 6 năm, mực nước giảm từ 2,48 – 12,23 m. Vùng có mực nước thay đổi lớn nhất là ở Linh Trung – Thủ Đức, từ năm 2000 đến năm 2005 mực nước hạ thấp 12,23 m, trung bình giảm 2,446 m/năm. Đây là vùng tập trung nhiều giếng khoan khai thác nước dùng trong sản xuất công nghiệp có lưu lượng khai thác là hàng ngàn m3 trên một ngày. Có thể kể đến một số đơn vị có lưu lượng khai thác lớn như: Công ty sữa Thống Nhất (1500 m3/ngày), công ty Dệt Việt Thắng (1000 m3/ngày), công ty liên doanh Sepzone Linh Trung (1000 m3/ngày), công ty TNHH Vina – Korea (600 m3/ngày) và hàng ngàn

trăm cơ sở sản xuất lớn nhỏ có lưu lượng khai thác từ vài chục đến vài trăm mét khối một ngày khác nữa (xem phụ lục 8).

Xét sự thay đổi mực nước dưới đất tại các trạm quan trắc trong khoảng từ năm 2000 đến 2005 ta thấy:

- Tại Linh Trung – Thủ Đức (lỗ khoan 09 – 02T), mực nước dao động có xu hướng giảm dần, năm sau thấp hơn năm trước. Độ chênh lệch mực nước giữa các năm thay đổi từ 0,17 – 2,02 m. Mực nước tỉnh thấp hơn so với mực nước biển, năm 2005 cách mực nước biển 20,47 m. Như đã giải thích ở trên, mực nước có sự hạ thấp mạnh là vì hoạt động khai thác nước dưới đất để phục vụ cho con người đặc biệt là hoạt động sản xuất công nghiệp.

- Tại sân Golf – Thủ Đức (lỗ khoan 10B), mực nước dao động theo chiều giảm dần, năm sau thấp hơn năm trước. Độ chênh lệch mực nước giữa các năm thay đổi từ 0,79 – 1,67m. Năm 2005 so với 5 năm trước, mực nước giảm 4,56m, trung bình giảm 0,912 m/năm (hình 3.8).

- Tại Thạnh Mỹ Lợi - quận 2 (lỗ khoan 11B), mực nước dao động theo chiều hướng giảm dần, mực nước năm sau thấp hơn năm trước. Độ chênh lệch mực nước giữa các năm thay đổi từ 0,22 – 0,9 m và khoảng cách chênh lệch mực nước giữa mỗi năm nhỏ dần. Trong 5 năm, mực nước giảm 2,48 m trung bình giảm 0,496 m/năm (hình 3.9).

Nhận xét: Qua các phân tích ở trên, tác giả có một số nhận định như sau:

Lượng nước khai thác tỷ lệ thuận với độ hạ thấp mực nước. Nơi nào lượng nước khai thác càng lớn thì nơi đó mực nước càng giảm mạnh. Khi lượng nước khai thác vượt quá khả năng khai thác của tầng chứa nước, trữ lượng nước sẽ bị cạn kiệt dần, sự cân bằng sinh thái tự nhiên trong môi trường nước ngầm bị phá vỡ, khi đó sẽ phát sinh những thay đổi liên quan đến các xu hướng mực nước dưới đất bị hạ thấp liên tục hay bị giao động mạnh; lượng nước sông hay các nguồn lộ bị cạn kiệt, suy thoái chất lượng nước dưới đất, thay đổi bề mặt đất do sụt lún cục bộ hay sạt lỡ mặt đất; không còn dự trữ cho tương lai. Do vậy cần phải có sự quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác nước dưới đất để chúng ta có thể khai thác nguồn tài nguyên quý giá này lâu dài hơn.

3.2.2.2 Ảnh hưởng của hoạt động kinh tế đến yếu tố động thái chất lượng nước Chất lượng nước dưới đất là yếu tố cực kỳ quan trọng cần được quan tâm đúng mức. Vì sự thay đổi chất lượng nước liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người, sự phát triển kinh tế và chất lượng cuộc sống. Con người cũng là nhân tố nhạy cảm dễ bị tác động bởi các yếu tố từ bên ngoài. Do đó, đề tài này đánh giá chất lượng nước cũng theo quan điểm phục vụ cho ăn uống và sinh hoạt. Khi đánh giá chất lượng nước đối với mục đích ăn uống có thể sử dụng tiêu chuẩn của Bộ xây dựng (TCXD 233 – 1999) với 34 chỉ tiêu và tiêu chuẩn vệ sinh ăn uống của Bộ Y tế (Ban hành theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế số 1329/2002/BYT/QĐ ngày 18/4/2002) với 112 chỉ tiêu (bảng 5.1, phụ lục 5). Một số chỉ tiêu chủ yếu có liên quan đến tình hình ô nhiễm nước dưới

đất ở vùng nghiên cứu được giới thiệu trong (bảng 5.2, phụ lục 5). Như đã giới thiệu ở phần 3.2.2, trong phạm vi bài luận văn tác giả chỉ tập trung đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác nước phục vụ cho các hoạt động công nghiệp đến chất lượng nước dưới đất vùng nghiên cứu.

a. Đối với tầng chứa nước Pleistocen:

Chất lượng nước dưới đất đối với mục đích ăn uống sinh hoạt được đánh giá theo tiêu chuẩn xây dựng TCXD 233 - 1999 (bảng 5.2, phụ lục 5).

Kết quả phân tích các mẫu nước dưới đất tại các trạm quan trắc của vùng nghiên cứu trong các năm 2001 – 2005 của Sở TN & MT Tp. Hồ Chí Minh cho thấy diễn biến một số chỉ tiêu quan trắc thay đổi thể hiện trên (bảng 3.18) và các (hình 3.11 - 3.16).

Bảng 3.18: Chất lượng nước tại các trạm quan trắc vùng nghiên cứu

Chỉ tiêu SHCT 2001 2002 2003 2004 2005 TCXD 233-1999

(cột A)

pH

09-02C 5,24 5,54 5,58 6,97 6,36 6,8-7,5 10A 4,55 5,82 4,68 6,02 5,86 11B 5,33 4,58 4,66 5,8 4,71

Tổng Fe (mg/l)

09-02C 0,08 0,35 0,08 0,46 0,1

<0,3 10A 0,05 0,07 0,03 0,01 0,06 11B 0,01 0,07 1,81 0,08 1,99

Cl- (mg/l)

09-02C 8,86 10,64 7,27 8,69 7,62 <25 10A 6,50 7,09 8,86 10,64 7,09 11B 35,45 31,91 29,25 29,78 178,96

NH4+

(mg/l)

09-02C 0,13 0,00 0,04 0,29 0,04

<0 10A 0,08 0,05 0,00 0,99 1,90 11B 0,00 0,00 0,71 0,35 0,14

NO3-

(mg/l)

09-02C 3,02 2,08 4,30 4,01 5,90 0 10A 3,89 0,00 9,16 10,68 1,92 11B 0,31 0,44 0,27 0,26 0,63

NO-2

(mg/l)

09-02C 0,01 0,05 0,06 0,02 0,03 10A 0,01 0,00 0,00 0,00 2,14 0 11B 0,01 0,00 0,00 0,00 0,00

01 2 34 56 78

2001 2002 2003 2004 2005 Năm pH

09-02C 10A 11B

Hình 3.11: Đồ thị độ pH trong nước tầng Pleistocen các trạm quan trắc vùng nghiên cứu

-0.5 0.0 0.5 1.0 1.5 2.0 2.5

2001 2001.5 2002 2002.5 2003 2003.5 2004 2004.5 2005 Năm Fe (mg/l)

09-02C 10A 11B

Hình 3.12: Đồ thị hàm lượng Sắt tổng cộng trong nước tầng Pleistocen các trạm quan trắc vùng nghiên cứu

0 50 100 150 200

2001 2002 2003 2004 2005 Năm Clorua mg/l

09-02C 10A 11B

Hình 3.13: Đồ thị hàm lượng Clorua trong nước tầng Pleistocen các trạm quan trắc vùng nghiên cứu

-0.5 0.0 0.5 1.0 1.5 2.0

2001 2002 2003 2004 2005 Năm Amonium(mg/)l

09-02C 10A 11B

Hình 3.14: Đồ thị hàm lượng Amonium trong nước tầng Pleistocen các trạm quan trắc vùng nghiên cứu

-3 0 3 6 9 12

2001 2002 2003 2004 2005 Năm Nitrat (mg/l)

09-02C 10A 11B

Hình 3.15: Đồ thị hàm lượng Nitrat trong nước tầng Pleistocen các trạm quan trắc vùng nghiên cứu

-0.5 0.0 0.5 1.0 1.5 2.0 2.5

2001 2002 2003 2004 2005 Năm Nitrit (mg/l)

09-02C 10A 11B

Hình 3.16: Đồ thị hàm lượng Nitrit trong nước tầng Pleistocen các trạm quan trắc vùng nghiên cứu

Qua các bảng và hình ở trên ta thấy: Nhìn chung các mẫu nước dưới đất không đạt TCCP về tất cả các chỉ tiêu (pH, Cl, sắt tổng, nitrat, nitrit và amonium). Trong đó, pH có dấu hiệu được cải thiện. Các thành phần hóa học có hàm lượng dao động thất thường tùy thuộc vào thời điểm lấy mẫu, vị trí lấy mẫu, và tình hình khai thác nước.

Các chỉ tiêu trong các mẫu quan trắc chất lượng nước dưới đất tầng Pleistocen có đặc điểm như sau:

- Về độ pH: đa số các mẫu nước dưới đất có pH dao động trong khoảng 4,55 – 6,36 giá trị này thấp hơn TCCP. Các mẫu quan trắc ở Linh Trung – Thủ Đức (lỗ khoan 09 – 02C) dao động có xu hướng tăng dần, năm sau cao hơn năm trước, năm 2004 pH có giá trị trung bình bằng 6,97 đạt TCCP.

- Hầu hết các mẫu nước dưới đất ở Linh Trung, sân Golf – Thủ Đức (lỗ khoan 09 – 02C, 10A) đều có hàm lượng clorua dao động trong khoảng 6,50 – 10,64 mg/l đạt TCCP. Các mẫu nước ở Thạnh Mỹ Lợi – quận 2 (lỗ khoan 11B) đều cao hơn TCCP và đặc biệt cao đột biến vào năm 2005, đây là vùng nằm kẹp giữa 2 con sông Sài Gòn và sông Đồng Nai. Động thái nước dưới đất chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều. Sự xâm nhập mặn từ biển, sông vào các lỗ khoan khai thác do tác động của thủy triều khiến nước khai thác lên có hiện tượng nhiễm mặn.

- Hàm lượng sắt tổng cộng dao động thất thường qua các năm tại các công trình quan trắc. Hầu hết các mẫu quan trắc nước dưới đất vùng Sân Golf – Thủ Đức có hàm lượng sắt tổng cộng thấp hơn TCCP. Tại 2 công trình quan trắc còn lại, hàm lượng sắt tổng cộng trong nước thay đổi trong khoảng 0,07 – 0,46 mg/l, đặc biệt năm 2005, sắt tổng trong nước tại Thạnh Mỹ Lợi – quận 2 (lỗ khoan 11B) là 1,99 mg/l cao hơn TCCP (<0,3) 6 lần. Có nhiều nguyên nhân làm hàm lượng sắt tăng, một trong những nguyên nhân đó là do nước trong các tầng chứa nước có pH thấp, lúc đó hàm lượng CO2 trong nước tăng làm cho nước có tính ăn mòn mạnh. Tình trạng đó sẽ thúc đẩy quá trình khử của Fe2+ hòa tan và khuếch tán vào trong nước.

- Đa số các mẫu nước dưới đất có hàm lượng Amonium dao động trong khoảng từ 0,04 – 0,99 mg/l giá trị này vượt quá TCCP.

- Về Nitrat: các mẫu nước tại trạm quan trắc 09-02C, Linh Trung – Thủ Đức, hàm lượng nitrat có xu hướng tăng dần theo các năm, năm sau cao hơn năm trước, dao động trong khoảng từ 3,02 – 5,9 mg/l. Tất cả các mẫu này đều vượt TCCP. Vùng Sân Golf – Thủ Đức, hàm lượng nitrat trong nước giao động thất thường, tăng đột biến vào năm 2003, 2004 (9,16 – 10,68 mg/l). Vùng Thạnh Mỹ Lợi – quận 2 (lỗ khoan 11B), hàm lượng nitrat nhìn chung không thay đổi nhiều qua các năm, khoảng dao động từ 0,27 – 0,63 mg/l.

- Hàm lượng nitrit trong mẫu nước dưới đất thay đổi không nhiều qua các năm, hầu hết đều có giá trị bé hơn TCCP. Tại Thạnh Mỹ Lợi – quận 2 (lỗ khoan 11B), đa số các mẫu nước quan trắc qua các năm đều có hàm lượng nitrit nằm trong giới hạn TCCP. Khu vực sân Golf – Thủ Đức, trong các năm 2002 – 2004, nước đạt TCCP về chỉ tiêu nitrit, tuy nhiên năm 2005, hàm lượng nitrit trong mẫu nước tăng đột biến lên 2,14 mg/l.

Nghiên cứu về ô nhiễm tổng Nitơ trong nước tầng chứa nước Pleistocen từ năm 2000 – 2004 cho thấy, năm 2000 hầu hết diện tích vùng nghiên cứu đều chưa bị nhiễm

Nitơ. Tuy nhiên đến năm 2004, nước dưới đất tầng Pleistocen trên địa bàn vùng nghiên cứu đã bị nhiễm bẩn nhẹ Nitơ trên diện rộng. Chỉ có một phần nhỏ diện tích thuộc vùng ven sông Sài Gòn và sông Đồng Nai (quận 2 và 1 phần quận 9) có nước dưới đất chưa bị nhiễm Nitơ (xem hình 3.17). Nitơ tổng bao gồm nitơ trong hợp chất NO2-, NO-3 và NH+4. Nguyên nhân khiến nước bị nhiễm Nitrit là do sự phân giải chất hữu cơ hay có mặt ở các nhà máy chế biến thực phẩm, các cơ sở chăn nuôi, giết mổ gia súc, các khu công nghiệp. Nitrat cao trong nước là do muối Nitrat tự do trong đất lan vào trong nước, có thể do sự phân hủy hợp chất hữu cơ từ các sản phẩm chứa nitơ, chất bài tiết của người và gia súc hay từ những hệ thống chứa nước thải của nhà máy hóa chất.

Hình 3.17: Ô nhiễm hợp chất Nitơ tầng Pleistocen năm 2000 - 2004

b. Đối với tầng chứa nước Pliocen trên:

Chất lượng nước dưới đất đối với mục đích ăn uống sinh hoạt được đánh giá theo tiêu chuẩn xây dựng TCXD 233-1999 (nguồn loại A, bảng, phụ lục).

Kết quả phân tích các mẫu nước dưới đất tại 3 trạm quan trắc 09 – 02T, 10B, 11A của vùng nghiên cứu trong các năm 2001 – 2005 của Sở TN & MT thành phố Hồ Chí Minh cho thấy diễn biến một số chỉ tiêu quan trắc thay đổi, được thể hiện trên (bảng 3.19) và các (hình 3.18 – 3.21).

2000 2004

Bảng 3.19: Chất lượng nước tại các trạm quan trắc vùng nghiên cứu

Chỉ

tiêu SHCT 2000 2001 2002 2003 2004 2005 TCXD

233- 1999 (cột A)

pH

09-02T 5,01 5,51 4,88 5,15 5,62 5,72 6,8-7,5 10B 4,36 4,57 4,45 4,64 4,66 4,81 11A 6,86 4,50 4,40 4,86 5,07 Tổng

Fe (mg/l)

09-02T 0,00 0,05 0,06 0,06 0,17 0,12

<0,3 10B 0,03 0,01 1,52 0,08 0,03 0,04 11A 0,01 0,28 0,71 0,35 0,08

Cl- (mg/l)

09-02T 7,45 8,63 6,03 6,56 6,74 7,62

<25 10B 5,68 4,73 4,61 6,38 6,03 7,98 11A 496,3 33,68 35,46 160,95 20,13

NH4+

(mg/l)

09-02T 0,00 0,11 0,00 0,00 0,09 0,07

<0 10B 0,00 0,01 0,14 0,06 0,16 0,03 11A 0,00 0,00 0,00 0,67 0,16

NO3-

(mg/l)

09-02T 4,79 3,99 5,49 6,18 8,3 5,64 0 10B 4,21 5,43 0,74 9,10 10,17 11,95 11A 0,31 0,31 0,25 0,54 0,24

NO-2

(mg/l)

09-02T 0,01 0,01 0,00 0,01 0,00 0,01 0 10B 0,00 0,01 0,00 0,01 0,01 0,00 11A 0,01 0,00 0,01 0,05 0,00

01 23 45 67 8

2000 2001 2002 2003 2004 2005 Năm pH

09-02T 10B 11A

Hình 3.18: Đồ thị độ pH trong nước tầng Pliocen trên các trạm quan trắc vùng nghiên cứu

-0.20.00.20.40.60.81.01.21.41.61.8

2000 2001 2002 2003 2004 2005 Năm Fe (mg/l)

09-02T 10B 11A

Hình 3.19: Đồ thị hàm lượng Sắt tổng cộng trong nước tầng Pliocen trên các trạm quan trắc vùng nghiên cứu

-50500 100150 200250 300350 400450 500550

2000 2001 2002 2003 2004 2005

Năm Clorua(mg/l)

09-02T 10B 11A

Hình 3.20: Đồ thị hàm lượng Clorua trong nước tầng Pliocen trên các trạm quan trắc vùng nghiên cứu

Một phần của tài liệu kl luu thi hai ly 610476b (Trang 45 - 61)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(93 trang)