Giới thiệu đôi nét về Kim Lân, truyện ngắn Vợ nhặt và ý kiến bàn luận

Một phần của tài liệu bộ đề LIÊN hệ văn 12 (Trang 36 - 52)

a) Giải thích ý kiến

Ý kiến trên nhận xét về hai mặt tính cách của nhân vật Tràng, một mặt nông nổi, liều lĩnh, một mặt đầy khát khao và tốt bụng.

b) Phân tích làm sáng tỏ ý kiến

- Liều lĩnh, nông nổi: Dẫu trong hoàn cảnh nghèo đói, cuộc sống bấp bênh đến cái thân Tràng còn lo chưa xong thế nhưng lại sẵn lòng đãi người đàn bà xa lạ bốn bát bánh đúc và đưa về làm vợ. Đó là điều ấn tượng nhất mà người đọc thấy ở Tràng. Điều đáng nói là Tràng chỉ tình cờ gặp người đàn bà ấy trong hai lần kéo xe bò lên tỉnh. Điều này cho chúng ta thấy điều gì? Tràng là người không biết suy nghĩ vì đến cái thân mình còn lo chưa xong mà lại còn đèo bòng, bởi trong hoàn cảnh đó cưu mang một con người là gánh thêm nguy cơ chết đói cho mình. Đúng như thế thật. Tràng gợi ý thị về chung nhà với Tràng trước khi nỗi lo cơm áo hiện diện: Thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng. Tràng vốn là anh nông dân khù khờ, hiền lành, chất phác nên việc hành động, nói năng như thế cũng chẳng có gì khó hiểu.

- Nhưng nếu hiểu như thế thì chẳng có gì nhân văn cả. Vậy thì là Tràng bao dung, thương người? Là Tràng ế vợ, cô đơn đã lâu mong có một mái ấm nho nhỏ? Có lẽ cả hai. Nhưng mong muốn có vợ của Tràng rất mãnh liệt, dẫu trong vài chi tiết hé lộ khá kín đáo nhà văn đã cho bạn đọc thấy được điều đó: Trong lần thứ nhất, Tràng đẩy xe bò lên tỉnh gặp thị, Tràng hò một câu tưởng tình cơ

cho đỡ mệt nhưng thật ra lại đầy tình ý: Muốn ăn cơm trắng mấy giò này! Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì !, khi thị nhận lời, Tràng thích lắm. Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế. Rồi cả trong câu nói vu vơ nhưng đầy tình thương và thành ý: Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về. Nhà văn Kim Lân muốn nhấn mạnh với bạn đọc điều gì qua khát vọng hạnh phúc gia đình của Tràng ? Là dù trong hoàn cảnh nghèo đói cơ cực hay thậm chí là cái chết đang chờ đón trước mặt thì khao khát hạnh phúc của con người vẫn luôn dạt dào, mãnh liệt. Tình người, hạnh phúc luôn mang đến những điều kì diệu, tươi đẹp trong cuộc sống để con người cảm thấy muốn sống, sống đẹp hơn trong những ngày cằn cỗi, khắc nghiệt. Chính điều đó đã làm cái vẻ xấu xí, thô kệch của Tràng bị lấn át bởi vẻ đẹp tự bên trong được tỏa sáng. Những ấn tượng còn lại về Tràng: Anh là một con người bao dung, ấm áp và đầy tình yêu thương. Như Chí Phèo sáng hôm sau tỉnh dậy sau đêm gặp thị Nở, Tràng trong lửng lơ như từ giấc mơ đi ra, cảm nhận được không gian ấm cúng: Ngoài vườn mẹ…

3. Yêu cầu nâng cao: Từ đó, liên hệ với nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao (Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục, 2017) để nhận xét về số phận của người nông dân thông qua hai nhân vật này.

- Cùng viết về đề tài người nông dân nghèo vùng nông thôn, phải chịu nhiều thiệt thòi, sống cơ cực, lầm than dưới chế độ phong kiến, thực dân. Cả Nam Cao và Kim Lân đều diễn tả, phản ánh thành công hiện thực cuộc sống, số phận người nông dân trước Cách mạng tháng tám 1945.

- Tuy nhiên, mỗi nhà văn lại khai thác đối tượng của mình ở những khía cạnh khác nhau.

+ Chí Phèo là nhân vật điển hình cho người nông dân bần cùng dẫn đến lưu manh hóa – quy luật có tính phổ biến trong xã hội trước Cách mạng. Còn Tràng lại tiêu biểu cho người nông dân vùng nông thôn trong nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu (1945). Nhưng nhìn chung, số phận của Chí Phèo đáng thương, đau khổ hơn Tràng: bị cự tuyệt quyền làm người.

+ Khám phá sự khác nhau: Ngoài những yếu tố chi phối như đề tài cảm hứng, phong cách sáng tác, quan niệm nghệ thuật, tư tưởng của mỗi nhà văn có khác

nhau thì có lẽ bối cảnh ra đời của hai tác phẩm này là yếu tố quyết định đến sự khác nhau trong số phận của hai người nông dân này. Tác phẩm Chí Phèo ra đời trước Cách mạng tháng Tám, đồng nghĩa với việc, số phận và cuộc đời của người nông dân hoàn toàn bế tắc, không lối thoát. Chẳng phải vậy mà, Chí Phèo với bản chất vốn lương thiện đã chẳng thể tồn tại trong xã hội ấy đó sao? Anh phải tìm đến cái chết để được làm người… lương thiện. Còn Vợ nhặt thì khác, dù lấy bối cảnh là nạn đói năm Ất Dậu (1945) nhưng tác phẩm lại được viết lại vào năm 1955, tức sau Cách mạng tháng Tám. Văn học thời kì này phải gắn liền và phụng sự cho sự nghiệp cách mạng. Do vậy mà số phận của người nông dân, mà chủ yếu qua nhân vật Tràng, có nhiều điểm khác biệt: Có lối thoát với kết thúc có hậu.

4. Đánh giá chung

Với nhân vật Tràng nhà văn Kim Lân vừa xây dựng được một người nông dân với nét phẩm chất, tính cách và trí tuệ, ngôn ngữ như tiêu biểu. Với Chí Phèo, Nam Cao đã xây dựng được một nhân vật điển hình cho một tầng lớp của xã hội.

Nhưng hơn cả, thông qua hai nhân vật, ta cảm nhận được tấm lòng nhân đạo, cũng như sự nhìn nhận đa chiều để trân trọng vẻ đẹp của người nông dân Việt Nam.

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Đại đa số thanh niên thời trước không ai suy nghĩ, trăn trở gì lắm về cuộc đời, vì ai đã có phận nấy.

Phận là cái phần mà cuộc sống, xã hội dành cho mỗi người: phận làm trai, phận giàu, phận nghèo, phận đàn bà, phận làm tôi, ... Con nhà lao động nghèo, nhiều lắm học đến chín, mười tuổi, đã phải lo làm ăn mong kế nghiệp cha, anh.

Con nhà giàu theo học lên cao thì làm quan, kém hơn thì làm thầy. Sinh ra ở phận nào, theo phận ấy, chỉ số ít là thoát khỏi.

Trái lại, thanh niên ngày nay tuy cái phận mỗi người vẫn còn, song trước mặt mọi người đều có khả năng mở ra nhiều con đường. Ngày nay sự lựa chọn

và cố gắng của bản thân,sự giúp đỡ của bạn bè đóng vai trò quyết định. Có lựa chọn tất phải có suy nghĩ, trăn trở.

Hết lớp tám, lớp chín, học gì đây? Trung học hay học nghề, hay đi sản xuất? Trai gái gặp nhau bắt đầu ngập ngừng. Yêu ai đây? Yêu như thế nào?

Sức khỏe tăng nhanh, kiến thức tích lũy đã khá, sống như thế nào đây? Ba câu hỏi ám ảnh: Tình yêu, nghề nghiệp, lối sống. Không thể quy cho số phận. Cơ hội cũng chia đều sàn sàn cho mọi người.

Thanh niên ngày xưa bước vào đời như người đi xem phim đã biết trước ngồi ở rạp nào, xem phim gì, ghế số bao nhiêu, cứ thế mà ngồi vào. Ngày nay, chưa biết sẽ xem phim gì, ở rạp nào, ngồi ghế số mấy, cạnh ai. Cho đến khi ổn định được chỗ ngồi trong xã hội, xác định đúng được vai trò và vị trí của mình là phải trải qua cả một thời gian dài.

Thời gian sẽ xây dựng cho mình một niềm tin và đạo lí.

Xây dựng nên thì như tàu ra biển rộng, có kim chỉ nam xác định hướng đi;

không thì như chiếc bách giữa dòng, e dè gió dập, hãi hùng sóng va.

(Thanh niên và số phận, Nguyễn Khắc Viện, Ngữ văn 11 – Nâng cao, Tập hai, NXB Giáo dục, 2017) Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.

Câu 2. Theo tác giả, vì sao thanh niên ngày nay không thể quy cho số phận?

Câu 3. Anh/ chị hiểu như thế nào về ý kiến: Thời gian sẽ xây dựng cho mình một niềm tin và đạo lí.Xây dựng nên thì như tàu ra biển rộng, có kim chỉ nam xác định hướng đi; không thì như chiếc bách giữa dòng, e dè gió dập, hãi hùng sóng va.

Câu 4. Anh/ chị có đồng ý với quan niệm: Phận là cái phần mà cuộc sống, xã hội dành cho mỗi người: phận làm trai, phận giàu, phận nghèo, phận đàn bà, phận làm tôi, .... Sinh ra ở phận nào, theo phận ấy, chỉ số ít là thoát khỏi. Vì sao?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm)

Từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của niềm tin trong cuộc sống.

Câu 2. (5,0 điểm)

Cảm nhận của anh/ chị về kết thúc truyện Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017).

Từ đó liên hệ với kết thúc truyện Chí Phèo của nhà văn Nam Cao (Ngữ văn 11, Tập một NXB Giáo dục Việt Nam, 2017) để cho biết yếu tố cốt yếu chi phối đến cách kết thúc truyện của hai truyện ngắn này.

Kết thúc truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân)

Tràng thần mặt ra nghĩ ngợi. Cái mặt to lớn bặm lặi, khó đăm đăm. Miếng cám ngậm trong miệng hắn đã bã ra chát xít... Hắn đang nghĩ đến những người phá kho thóc Nhật.

Tràng hỏi vội trong miếng ăn:

- Việt Minh phải không?

- Ừ, sao nhà biết?

Tràng không trả lời. Trong ý nghĩ của hắn vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp. Đàng trước có lá cờ đỏ to lắm.

Hôm ấy hắn láng máng nghe người ta nói họ là Việt Minh đấy. Họ đi cướp thóc đấy. Tràng không hiểu gì sợ quá, kéo vội xe thóc của Liên đoàn tắt cánh động đi lối khác.

À ra họ đi phá kho thóc chia cho người đói. Tự dưng hắn thấy ân hận, tiếc rẻ vẩn vơ, khó hiểu.

Ngoài đình tiếng trống thúc thuế vẫn dồn dập. Mẹ và vợ Tràng đã buông đũa đứng dậy.

Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới...

(Dẫn theo Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr.32) Kết thúc truyện Chí Phèo (Nam Cao)

Và nhớ lại những lúc ăn nằm với hắn, thị nhìn trộm bà cô, rồi nhìn nhanh xuống bụng:

- Nói dại, nếu mình chửa, bây giờ hắn chết rồi, thì làm ăn thế nào?

Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người qua lại…

(Dẫn theo Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr.155)

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1. Phương thức biểu đạt nghị luận/ Nghị luận.

Câu 2. Theo tác giả, thanh niên ngày nay Không thể quy cho số phận vì: trước mặt mọi người đều có khả năng mở ra nhiều con đường; Cơ hội cũng chia đều sàn sàn cho mọi người.

Câu 3. Thời gian sẽ xây dựng cho mình một niềm tin và đạo lí. Xây dựng nên thì như tàu ra biển rộng, có kim chỉ nam xác định hướng đi; không thì như chiếc bách giữa dòng, e dè gió dập, hãi hùng sóng va. Ý kiến trên khẳng định vai trò quan trọng của niềm tin, đạo đức đối với thành công của mỗi người.

Câu 4. HS trình bày suy nghĩ riêng của mình song cần có quan điểm đúng đắn, thuyết phục. Dưới đây là gợi ý tham khảo:

- Trong cuộc sống, mỗi người đều có rất nhiều cơ hội nhưng lựa chọn con đường nào để đến được thành công lại phụ thuộc vào năng lực, bản lĩnh của mỗi người. Mặt khác, thành công trong tương lai phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời cơ, sự giúp đỡ của bạn bè, người thân... Đặc biệt, bản thân mỗi người cần có ý chí nghị lực vượt qua mọi khó khăn để đạt được thành công.

- Phê phán những người sống thiếu bản lĩnh, thường đổ lỗi cho số phận khi gặp thất bại.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm)

[Đ] Niềm tin có vai trò quan trọng trong cuộc sống con người

[G] Vì cuộc sống luôn đầy rẫy những khó khăn, trở ngại, chính niềm tin vào cuộc sống, vào con người, vào tương lai tươi sáng, tốt đẹp sẽ tiếp cho con người sức mạnh tinh thần to lớn để đạt được thành công. Nếu không có niềm tin thì con người dễ khiến con người ta chán nản, buông xuôi, thất bại. Beethoven (17/12/1770 - 26/3/1827) là nhà soạn nhạc cổ điển người Đức. Hồi nhỏ, ông bị khiếm thính, sau đó bị điếc hoàn toàn, nhưng với niềm tin lòng say mê âm nhạc, ông vượt qua mọi trở ngại, ông vẫn trở thành một nhà soạn nhạc vĩ đại, nổi tiếng thế giới.

[M] Niềm tin không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với bản thân mà trong các mối quan hệ trong cuộc sống, trong kinh doanh, trong công tác xã hội,...

chúng ta cũng đều cần đến niềm tin để vực dậy lòng tin giữa người với người.

Con người sống cần có niềm tin song tránh rơi vào sự mù quáng, không phân biệt được đúng- sai, tốt - xấu,... Nếu không niềm tin ấy sẽ trở thành niềm tin mù quáng, cực đoan.

[B] Muốn vậy mỗi người không ngừng học tập lĩnh hội tri thức, rèn luyện bản lĩnh.

Câu 2. (5,0 điểm)

1. Giới thiệu đôi nét về nhà văn Tô Hoài, truyện ngắn Vợ chồng A Phủ vai trò của "tiếng sáo" đối với sự hồi sinh của nhân vật Mị.

2. Yêu cầu cơ bản: Cảm nhận của anh/ chị về kết thúc truyện Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân:

- Kết thúc truyện Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân mở ra khung cảnh: Hình ảnh cuối cùng về đám người đói và lá cờ đỏ sao vàng đến với tâm tưởng của Tràng rất tự nhiên. Tiếng trống thúc thuế dồn dập trong bữa ăn sáng làm cho chị vợ nhặt ngạc nhiên "ở đây vẫn phải đóng thuế cơ à?", "Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói". Câu nói của vợ làm Tràng nhớ lại cảnh những người nghèo đói ầm ầm đi trên đê Sộp, đằng trước có lá cờ đỏ sao vàng to lắm.

Vì chưa hiểu mục đích hành động của họ nên anh đã kéo xe thóc liên đoàn đi theo lối khác. Trong đầu Tràng bỗng thấy tiếc rẻ vẫn vơ, khó hiểu.

- Hình ảnh đám người đói và lá cờ đỏ sao vàng đi trên đê Sộp gợi đến điều gì ? Nếu không có cảnh buổi sáng hôm sau và cách kết thúc như thế này, câu chuyện vợ nhặt có giống Tắt đèn (Ngô Tất Tô) hay Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan) không ? Hình ảnh khép lại tác phẩm gợi cho người đọc nghĩ về Việt Minh, về Cách mạng tháng Tám vĩ đại, về sự vùng dậy của những người dân khốn khổ, đập tan xiềng xích, giành lại cơm áo, giành lại sự sống cho bản thân, giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Vì thế, kết thúc của tác phẩm đã gieo vào lòng người đọc một niềm tin mãnh liệt. Rằng Tràng và gia đình bé nhỏ của anh, rằng hàng triệu những gia đình khốn khổ như thế sẽ có lá cờ đỏ kia dẫn đường

đi giành cơm và sự sống. Rồi đây trong đoàn quân của những người đói kéo nhau đi trên đê Sộp, nhất định sẽ có Tràng, mẹ anh và vợ anh cùng sánh bước.

Có lẽ cũng giống như bà cụ Tứ, nhà văn Kim Lân đã gieo một hạt giống hi vọng mãnh liệt vào tâm hồn Tràng, gia đình anh và tất cả bạn đọc chúng ta.

Câu chuyện mở ra khung cảnh tối sầm vì đói khát, một buổi chiều chạng vạng mặt người, và khép lại bằng cảnh buổi sáng đầm ấm hạnh phúc, dẫu vẫn còn đó những đối mặt gai góc với cuộc sống, với cái đói, nhưng đã tạo ra một hướng mở cho cuộc đời nhân vật. Hình ảnh khép lại vừa đủ để gợi ấn tượng về tương lai và cuộc đời của những người như Tràng, như mẹ anh, vợ anh, vừa hé ra một tia sáng cuối đường hầm cho tác phẩm, vừa không làm cho truyện rơi vào chủ quan, sơ đồ hóa giản đơn như không ít hạn chế của tác phẩm văn chương thời ấy.

3. Yêu cầu nâng cao: Từ đó, liên hệ với kết thúc truyện Chí Phèo của nhà văn Nam Cao (Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục, 2017) để cho biết yếu tố cốt yếu chi phối đến cách kết thúc truyện của hai truyện ngắn này..

Truyện ngắn Chí Phèo kết thúc với hình ảnh Thị Nở ôm bụng bầu (Chí Phèo con) và thoáng nghĩ về cái lò gạch cũ. Điều đáng nói là cái lò gạch cũ chính là nơi Chí Phèo (cha) sinh ra. Cách kết thúc làm nên kết cấu vòng tròn của tác phẩm này đã phản ánh một quy luật khách quan của cuộc sống về số phận của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám (1945): cuộc sống quẩn quanh, bế tắc, không lối thoát như chính cuộc đời Chí Phèo.

- Tuy cùng đề cập về người nông dân với cuộc sông thống khổ của họ nhưng do hoàn cảnh ra đời của tác phẩm mà cách kết thúc của hai truyện khác nhau: Với kết thúc truyện Vợ nhặt, nhà văn Kim Lân đã mở ra cho họ một lối thoát với hình ảnh lá cờ đỏ của cách mạng và đám người đi phá kho thóc; ngược lại kết thúc truyện Chí Phèo lại quẩn quanh bế tắc. Nam Cao viết Chí Phèo năm 1942 trong hoàn cảnh đen tối của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Kim Lân viết Vợ nhặt sau hòa bình lặp lại 1954 khi dân tộc ta đã đi qua 2 mốc lớn của lịch sử là Cách mạng tháng Tám và cuộc kháng chiến chống Pháp. Ánh sáng Cách mạng giúp nhà văn thấy được hướng vận động và phát triển của lịch sử. Đây có lẽ là nguyên nhân, là yếu tốt cốt yếu dẫn đến sự khác nhau ở kết thúc của hai truyện

Một phần của tài liệu bộ đề LIÊN hệ văn 12 (Trang 36 - 52)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(147 trang)
w