Yêu cầu cơ bản: Cảm nhận nhân vật Tràng

Một phần của tài liệu bộ đề LIÊN hệ văn 12 (Trang 52 - 58)

- Tràng là một gã trai nghèo khổ, dân cư ngụ, làm nghề đẩy xe bò thuê, bố chết, em gái cũng chết, chỉ còn lại Tràng và bà mẹ già nua. Dân cư ngụ là nhưng người vốn từ nơi khác đến, trong mắt người đời đó là hạng người tứ tán, nghèo khổ, thường bị coi rẻ, bị phân biệt đối xử. Tràng có ngoại hình xấu xí, thô kệch:

hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lý thú vừa dữ tợn... đầu cạo trọc nhẵn, cái lưng to rộng như lưng gấu,

ngay cả cái cười cũng lạ, cứ phải ngửa mặt lên cười hềnh hệch. Tràng là một đẽo gọt quá sơ sài của tạo hóa, là di chứng của đói khát và nghèo khổ từ kiếp nào.

- Tràng là người vô tư nông cạn. Tràng là người hầu như không biết tính toán, không ý thức hết hoàn cảnh của mình. Anh ta thích chơi với trẻ con và chẳng khác chúng là mấy. Mỗi lần Tràng đi làm về, trẻ con trong xóm ùa ra vây lấy hắn, reo cười váng lên, rồi chúng, đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo tay, đứa lôi chân không cho đi, rồi chèo kéo Anh Tràng ơi, bế em mấy... Tràng chỉ ngửa mặt lên cười hềnh hệch. Ngay cả chuyện quan trọng như lấy vợ, Tràng cũng chỉ quyết định trong chốc lát, đâu có hai bận bông đùa, người đàn bà đang đói khát bám lấy Tràng để được ăn, Tràng cũng vui vẻ chấp nhận, đưa về nhà để thành... vợ chồng! Thật, xưa nay chưa có ai quyết định việc lấy vợ nhanh chóng như Tràng.

- Tràng là người đàn ông nhân hậu, hào hiệp, phóng khoáng. Thật ra, ban đầu Tràng không chủ tâm tìm vợ. Thấy người đàn bà đói, dù anh cũng đói khát không kém nhưng vẫn cho ăn, còn động viên thị yên tâm ăn không phải day dứt hổ thẹn khi vỗ vỗ vào túi "Rích bố cu, hở !". Khi thấy thị quyết theo mình thì Tràng vui vẻ chấp nhận. Tràng lấy vợ trước hết vì lòng thương đối với một con người đói khát hơn mình. Khi người phụ nữ chấp nhận làm vợ, Tràng đã có ý thức chăm sóc: Đưa thị vào chợ tinh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa no nê...

- Tràng là giàu khát vọng hạnh phúc và là một người sống có trách nhiệm.

Trước đây có thể cuộc sống bí bách, ít hi vọng nên Tràng chẳng lo lắng gì cho gia đình: cái nhà ở của hai mẹ con xiêu vẹo, cỏ mọc lổn nhốn, ang nước khô cong, rác mùn tung bành ở lối đi, quần áo vắt khươm mươi niên. Việc Tràng nhặt vợ về ngoài tình thương đối với người cùng cảnh ngộ, có thể thấy đó còn là một khao khát thầm kín bấy lâu nay trong Tràng. Từ khi có vợ anh lấy lại bản chất đáng quý vốn quý lâu nay bị khỏa lấp trong con người mình: Tràng ngoan ngoãn với mẹ; thấy gắn bó với cái nhà mình, thấy thấm thía cảm động trước cảnh nhà đơn sơ, bình dị, thấy mình nên người, muốn làm một việc gì đó dự phần vào tu sửa lại căn nhà. Từ một anh phu xe cục mịch, chỉ biết việc trước

mắt, sống vô tư, Tràng đã là người quan tâm đến những chuyện ngoài xã hội và khao khát sự đổi đời. Khi tiếng trống thúc thuế ngoài đình vang lên vội vã, dồn dập, Tràng đã thần mặt ra nghĩ ngợi, đây là điều hiếm có đối với Tràng xưa nay.

Hình ảnh đoàn người nghèo đói vùng lên dưới bóng lá cờ đỏ bay phất phới trong tâm trí Tràng đã nói lên ước vọng đổi đời của Tràng và những người dân nghèo.

- Số phận người nông dân qua nhân vật Tràng. Cuộc đời của Tràng tiêu biểu cho số phận của người dân nghèo trước Cách mạng tháng Tám, vừa tủi cực, vất vả vừa éo le: Khi chưa có nạn đói thì nghèo đến nỗi không lấy nổi vợ, nhưng lại lấy vợ lúc nạn đói đang hoành hành, dồn đẩy đến bờ vực của cái chết. Cuộc đời của những người như Tràng nếu không có một sự thay đổi mang tính đột biến của cả xã hội sẽ sống mãi trong sự tăm tối, đói khát. Ở Tràng, tuy chưa có được sự thay đổi đó, nhưng cuộc sống đã bắt đầu hé mở cho anh một hướng đi. Đó là con đường đến với Cách mạng một cách tự nhiên và tất yếu mà những người như Tràng sẽ đi và trong thực tế lịch sử, người nông dân Việt Nam đã đi đến với Cách mạng như thế. Qua nhận vật Tràng, không những nhà văn phản ánh một mặt trận đen tối trong hiện thực xã hội trước năm 1945 cùng số phận của người dân nghèo mà còn phát hiện vẻ đẹp tâm hồn của họ. Qua nhân vật Tràng, Kim Lân muốn khẳng định một chân lí: sự sống chẳng bao giờ chán nản, luôn mạnh hơn cái chết. Như Kim Lân từng tâm sự: Những người đói họ không nghĩ đến cái chết mà chỉ nghĩ đến cái sống.

- Nghệ thuật xây dựng và tư tưởng nhà văn thể hiện qua nhân vật: Kim Lân đã khắc hoạ nhân vật Tràng với đầy đủ diện mạo, ngôn ngữ, hành động, đặc biệt là diễn biến tâm trạng của Tràng bằng ngòi bút sắc sảo. Anh chàng phu xe cục mịch nhưng có một đời sống tâm lý sống động, khi hãnh diện cái mặt vênh vênh tự đắc với mình bởi vừa mới nhặt được vợ, lúc lật đật chạy theo người đàn bà, như người xấu hổ chạy trốn, hay lúng túng, tay nọ xoa xoa vào vai kia, cũng có khi lòng quên hết những cảnh sống ê chề tăm tối hằng ngày, chỉ còn tình nghĩa.

Anh thô kệch nhưng không sỗ sàng, trái lại biết ngượng nghịu, biết sợ, nhất là biết lo nghĩ cho cuộc sống về sau. Qua truyện ngắn Vợ nhặt Kim Lân bộc lộ một quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình. Không chỉ bày tỏ niềm cảm thương

với những người lao động khốn khó, nhà văn còn phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của người lao động trong sự túng đói quay quắt, trong bất kì hoàn cảnh khốn khổ nào, con người vẫn vượt lên cái chết, hướng về cuộc sống gia đình, vẫn yêu thương nhau và hi vọng vào ngày mai.

3. Yêu câu phân hóa: Liên hệ với nhân vật Chí Phèo trong truyện Chí Phèo của Nam Cao dê nhận xét về số phận của người nông dân thông qua hai nhân vật này:

- Liên hệ với Chí Phèo: Chí Phèo là nhân vật chính, nhân vật tiêu biểu cho các sáng tác về đề tài người nông dân nghèo trước Cách mạng tháng Tám trong các sáng tác của Nam Cao. Chí Phèo là con người đáng thương, tuy có hoàn cảnh bất hạnh nhưng hắn vẫn lớn lên trở thành người nông dân khỏe mạnh, lương thiện, tự trọng. Chí Phèo là nạn nhân của chế độ Phong kiến và Thực dân. Bá Kiến đẩy Chí vào tù, nhà tù thực dân đã tiếp tay nhà nặn biến Chí thành người khác hẳn, trông đặc như một thằng săng đá, uống rượu triền miên, chửi bới khắp tất cả. Chí mất hết cả nhân hình lẫn nhân tính. Bị Bá Kiến mua chuộc Chí trở thành tay sai đắc lực, công cụ gây tội ác, bị cả làng xa lánh coi hắn như con quỷ dữ. Song sâu thẳm trong con quỉ dữ ấy vẫn khao khát được trở về với cuộc sống của người lương thiện, muốn làm hòa với mọi người. Tình yêu thương chân thành của người đàn bà khốn khổ, Thị Nở đã thức tỉnh Chí và linh hồn của Chí lâu nay phải bán cho quỷ để đổi lấy miếng ăn thì giờ đây đã trở về. Chí vô cùng khao khát được mọi người nhận anh trở lại vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện. Tình yêu của Thị Nở đã mở đường cho Chí Phèo trở lại làm người. Nhưng con đường trở lại làm người của Chí Phèo vừa được hé mở thì đã bị đóng lại. Bà cô Thị Nở không cho phép cháu bà "đi lấy một thằng (...) chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ”. Cách nhìn của bà ta cũng chính là cách nhìn của mọi người làng Vũ Đại lâu nay đối với Chí Phèo. Tất cả quen coi Chí là quỷ dữ mất rồi. Linh hồn Chí trở về nhưng không ai nhận ra.

Thế là Chí Phèo thật sự rơi vào một bi kịch tinh thần đau đớn, bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Chí Phèo vật vã quằn quại trong cơn đau đớn, tuyệt vọng, thấm thía tội ác của kẻ thù và tình trạng tuyệt vọng vô phương cứu chữa của đời mình. Chí đã đến trước mặt Bá Kiến, đanh thép kết án lão và đã giết

chết lão, sau đó, anh tự sát. Câu hỏi cuối cùng của Chí Phèo: Ai cho tao lương thiện? là câu hỏi chứa chất phẫn uất, đau đớn, còn làm day dứt người đọc. Làm thế nào để con người được sống lương thiện trong cái xã hội tàn bạo, ngột ngạt, vùi dập nhân tính ấy?

- Nhận xét về giá trị nhân đạo: Nhân vật Chí Phèo và nhân vật Tràng đều là những nhân vật tiêu biểu cho số phận cuộc đời của người nông dân nghèo trước Cách mạng tháng Tám nhưng mỗi nhà văn đã có những khám phá riêng về số phận và cảnh ngộ của người nông dân. Bằng sự cảm thông và thương yêu chân thành, Nam Cao, Kim Lân đã ghi nhận cuộc đời của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám là một chuỗi dài những ngày tháng đau khổ, tủi cực. Chế độ phong kiến thực dân đã hùn nhau cùng bóc lột, chà đạp lên người nông dân, đẩy họ vào con đường bần cùng hóa, nghèo khổ đói khát và có nguy cơ chết đói. Không chỉ có vậy, với dã tâm thâm độc, chính quyền thực dân còn tiếp tay cho giai cấp phong kiên đẩy người nông dân vào bi kịch bị tha hoá, bị đày đọa lăng nhục, đỉnh cao của những nỗi khổ trên là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Nam Cao phản ánh nỗi khổ của người nông dân là bi kịch bị tha hoá, bị dày doa lăng nhục, bị cự tuyệt quyền làm người. Họ khao khát, ước mơ một cuộc sống lương thiện nhưng lại bị chà đạp tàn bạo về nhân phẩm khiến không những không được làm người mà còn bị biến thành quỷ dữ, bị xã hội xa lánh, rồi khao khát trở về làm làm người lương thiện bình thường cũng không được, đành phải chết trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống làm người. Kim Lân khám phá thân phận nghèo hèn của người nông dân trong nạn đói lịch sử năm 1945, nhưng từ trong hoàn cảnh cơ cực, bị cái đói dồn đuổi đến bước đường cùng, nhà văn vẫn nhận thấy ở người nông dân nghèo khổ vẫn ấp ủ một niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống, khao khát cháy bỏng về hạnh phúc gia đình và tình người nhân hậu ấm áp. Chí Phèo kết thúc bằng cách lặp lại hình ảnh cái lò gạch củ đã xuất hiện ở phần đầu tác phẩm, cái lò gạch cũ bỏ không và vắng bóng người qua lại hiện lên trong đầu óc thị Nở như một dự cảm về số phận luẩn quẩn bế tắc của người nông dân khi Cách mạng chưa về. Vợ nhặt kết thúc bằng hình ảnh hiện lên trong óc Tràng: đoàn người đi phá kho thóc của Nhật cùng với hình ảnh lá cờ đỏ của Việt Minh bay phấp phới. Hình ảnh này đối lập với hình

ảnh về cuộc sống thê thảm của người nông dân được miêu tả trong những phần trước của thiên truyện, hé mở một hướng giải thoát cho số phận các nhân vật, chỉ ra con đường sống của người nông dân, và cho thấy khi bị đẩy vào tình trạng đói khát cùng đường thì những người nông dân nghèo khổ sẽ hướng tới Cách mạng. Sở dĩ có sự khác nhau trong cách kết thúc truyện là do hoàn cảnh sáng tác và hoàn cảnh lịch sử: Chí Phèo viết trước cách mạng (viết năm 1940, in năm 1941) trong hoàn cảnh đen tối của xã hội Việt Nam đương thời. Còn Vợ nhặt là tác phẩm của nền văn học cách mạng từ sau 1945 có khả năng và cần thiết phải chỉ ra chiều hướng tích cực của đời sống xã hội.

4. Đánh giá chung

Với cuộc đời cơ cực và bi kịch của hai nhân vật, hiện thực khách quan của cuộc sống được phản ánh, tấm lòng nhân đạo và tài năng xây dựng nhân vật của nhà văn được thể hiện.

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Lòng biết ơn là đẳng cấp cao nhất của văn minh. Một triết gia cổ đại đã từng nói như vậy.

Nên trong cuộc đời mình, dù có bất đồng quan điểm, hoặc không còn yêu thương, hoặc họ không cho mình nữa, hoặc mình không đủ năng lực lấy cơ hội họ mang đến, thì cũng nên trắng đen mà dùng lý trí phân biệt, rằng họ đã từng cho mình. Dù là 1 xu hay một miếng bánh nhỏ, cũng phải biết ơn.

Luôn nghĩ về ngày xưa, để biết ơn người đã cho mình cơ hội. Nếu không có họ, thì mình hiện giờ sẽ ra sao. Tự tưởng tượng và xóa bỏ những ý nghĩ không hay, nếu có. Văn minh đơn giản chỉ là như vậy.

[...] Cám ơn là câu cửa miệng, nhưng với người mình thì ngày càng hiếm hoi.

Chữ cám ơn xuất phát từ lòng biết ơn chân thành, là một tiêu chí để đánh giá con nhà có giáo dục tốt từ cha từ mẹ.

(Trích Lòng biết ơn, Tony Buổi sáng, 17/10/2017) Câu 1. Xác định thao tác lập luận chủ yếu được sử dụng trong đoạn trích trên.

Câu 2. Nêu ngắn gọn nội dung của đoạn trích trên.

Câu 3. Vì sao Lòng biết ơn là đẳng cấp cao nhất của văn minh?

Câu 4. Anh/ Chị có đồng ý với quan niệm: Chữ cám ơn xuất phát từ lòng biết ơn chân thành, là một tiêu chí để đánh giá con nhà có giáo dục tốt từ cha từ mẹ? Vì sao?

Một phần của tài liệu bộ đề LIÊN hệ văn 12 (Trang 52 - 58)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(147 trang)
w