2. Yêu cầu cơ bản: Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của nhân vật người vợ nhặt (Vợ nhặt, Kim Lân):
– Không giống những nhân vật người phụ nữ chính diện trong văn học dân gian và văn học trung đại, vẻ đẹp của nhân vật người vợ nhặt không được thể hiện ở ngoại hình. Thậm chí, trong hồi tưởng của Tràng, thị không chỉ có ngoại hình xấu xí, rách rưới: áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai mắt mà còn có tính cong cớn, chỏng lỏn, vô duyên,..
(Thị vẫn đứng cong cớn trước mặt hắn, thị ngồi sà xuống ăn thật. Thị cắm đàu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng trò chuyện gì. Ăn xong, thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng, thở). Bởi thị là nạn nhân của nạn đói khủng khiếp năm 1945. Vì đói, thị bỏ qua lòng tự trọng, chấp nhận theo không Tràng – vợ nhặt – để bám víu sự sống.
– Nhưng thật bất ngờ, sau khi đọc cả thiên truyện, ấn tượng bao trùm và sâu đậm của người đọc về nhân vật người vợ nhặt lại là vẻ đẹp. Vẻ đẹp của nhân vật thị là khát khao sống, khát khao hạnh phúc mãnh liệt trong hoàn cảnh nạn đói, hoàn cảnh mà con người ta đang đứng chấp chới giữa sự sống và cái chết.
+ Sức sống mãnh liệt, khát vọng sống mạnh mẽ: chấp nhận theo không Tràng để bấu víu sự sống, chăm lo gia đình để xây đắp tổ ấm, tương lai; không chấp nhận cái chết.
+ Trước khi lấy Tràng, thị đanh đá, cong cớn, vô duyên nhưng sau khi lấy Tràng, thị đã thay đổi rõ rệt: ý tứ, hiền hậu, đúng mực, hiểu lễ giáo, chu đáo, đảm đang,.. (Trên đường về nhà Tràng, Thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón
rén, e thẹn. Khi vào nhà, Thị vẫn ngồi mớm ở mép giường... Thị cúi mặt, tay vân vê tà áo đã rách bợt. Sáng hôm sau, Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ rằng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh...) Có thể nói, những phẩm chất tốt đẹp đó vốn là bản chất của người vợ nhặt mà nhất thời bị cái đói che lấp.
+ Thị biết trân trọng, chắt chiu hạnh phúc gia đình: thái độ, hành động của người vợ khi quét dọn sân trong buổi sáng sớm hôm sau (Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nê nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn) và khi ăn chè khoán (Ngay từ miếng và đầu tiên, Tràng chun ngay mặt lại, miếng cám đắng chát và nghẹn bức trong cổ.
Còn thị, đón lấy bát cháo từ mẹ chồng, dù hai con mắt thị tối lại bởi sự thất vọng, nhưng thị vẫn điềm nhiên và vào miệng. Có lẽ, thị ý thức được giá trị lớn lao của tổ ấm gia đình, thị muốn làm vui lòng mẹ chồng, muốn gìn giữ không khí vui vẻ, đầm ấm của gia đình).
+ Tác giả đặt nhân vật người vợ nhặt vào tình huống truyện éo le, độc đáo để làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn giàu sức sống và khát vọng sống. Ngôn ngữ nhân vật mang tính cá thể hóa cao, mang tính đại diện cho tầng lớp nông dân nghèo trước Cách mạng ở miền Bắc. Tính cách nhân vật có sự chuyển biến bất ngờ nhưng logic.
3. Yêu cầu nâng cao: Còn yêu cầu nâng cao là liên hệ với vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Liên trong cảnh phố huyện lúc đêm xuống (Hai đứa trẻ, Thạch Lam) nhằm mục đích làm rõ tư tưởng nhân đạo của hai nhà văn.
– Liên hệ với vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Liên trong cảnh phố huyện lúc đêm xuống: Cũng như người vợ nhặt trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân, vẻ đẹp của Liên không được khắc họa qua diện mạo bên ngoài mà là vẻ đẹp của nội tâm, tâm hồn. Liên không bị cái đói đẩy vào tình cảnh cùng cực, bi thảm như người vợ nhặt. Nhung ở cái tuổi 12, 13, Liên và em không được vui chơi, học hành mà phải sớm giúp mẹ bươn chải mưu sinh, phải sống nghèo khổ, tù túng, mòn mỏi, bế tắc nơi phố huyện nghèo. Liên là cô bé ngoan, hiếu thảo, chăm chỉ.
Qua diễn biến tâm trạng Liên trước cảnh thiên nhiên và cuộc sống phố huyện lúc đêm xuống, ta thấy tâm hồn cô vẫn sáng lên vẻ đẹp của tình yêu thiên nhiên,
yêu quê hương, tâm hồn trong sáng, tinh tế, nhạy cảm, nhân hậu, giàu lòng trắc ẩn nhân hậu, đặc biệt là khát vọng sống, niềm hy vọng vào một cái gì đó tươi sáng hơn cho cuộc sống thường ngày của mình và những con người nơi phố huyện. Niềm ước vọng đó tuy mong manh, mơ hồ (Liên chỉ là một đứa trẻ) nhưng thể hiện sức sống mạnh mẽ và ý thức phủ nhận cuộc sống hiện tại của nhân vật. Nhân vật Liên cũng như nhân vật người vợ nhặt đều được tác giả dành cho những tình cảm yêu quý, trân trọng và cảm thương, đều thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc.
– Tư tưởng nhân đạo của hai nhà văn Thạch Lam và Kim Lân:
+ Các nhà văn đều tập trung trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn, đặc biệt vẻ đẹp khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của con người, dù bị đẩy vào tình cảnh khốn cùng, bi thảm. Thạnh Lam và Kim Lân dành tình cảm xót thương chân thành cho những mảnh đời bất hạnh, đặc biệt là trẻ em, phụ nữ - những người yếu đuối, có thân phận nhỏ bé, luôn phải chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội cũ.
Qua đó, các nhà văn ngầm tố cáo giai cấp thống trị đã đẩy nhân dân ta vào tình cảnh thê thảm. (Trong truyện Vợ nhặt, lực lượng tàn bạo đó, ngoài phong kiến, thực dân Pháp, là phát xít Nhật).
+ Nếu trong Hai đứa trẻ (Thạch Lam), cũng như nhiều các tác phẩm văn học trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhà văn thể hiện niềm khát vọng về sự đổi đời của các số phận bất hạnh rất mơ hồ, mong manh (kết thúc truyện bi quan, đầy bóng tối, số phận nhân vật bế tắc) thì ở Vợ nhặt, cũng như nhiều các tác phẩm văn học sau năm 1945, Kim Lân đã thể hiện tư tưởng nhân đạo mới mẻ khi hé mở tương lai tươi sáng, con đường đổi đời của người lao động và chính người lao động sẽ là người cải tạo hoàn cảnh dưới ánh sáng của Cách mạng ("Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”).
4. Đánh giá chung
Thạch Lam và Kim Lân đã có những đóng góp lớn trong việc kế thừa và phát huy truyền thống nhân đạo trong văn học dân tộc.
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Nhìn các em thi đấu, tôi vừa cảm phục vừa thương các em. Tôi thương các em không phải vì các em yếu hơn đối thủ, vì các em thua. Tôi thương vì các em còn quá trẻ, mới chỉ 20 tuổi nhưng đã mang trên vai trọng trách lấy lại niềm tin và niềm tự hào của cả một dân tộc. Trọng trách mà thế hệ chúng tôi, một thế hệ chưa già nhưng đã nguội lạnh, đã đổ trách nhiệm đó cho ai khác […]
Để rồi khi lịch sử gọi tên các em, chứ không phải là thế hệ chúng tôi. Và chúng tôi chợt nhận ra rằng lịch sử luôn đặt trọng trách lên vai lứa tuổi 20. Người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước chịu đựng mưa tuyết lạnh cắt thịt bên trời Âu chỉ với một viên gạch hồng nung đỏ. Tổng bí thư Trần Phú hy sinh khi mới ở độ tuổi đôi mươi. Và nếu chúng tôi để trôi qua thời khắc ấy, lịch sử sẽ gọi tên một thế hệ tuổi đôi mươi khác, đó là các em...
Tôi tin rằng nhiều người đã khóc vì cảm phục và ân hận sau trận đấu này, tôi cũng thế. Tôi gọi các em là "những chiến binh tuyết". Màu áo đỏ của các em giống như những giọt máu đỏ của những người lính rơi trên tuyết lạnh, nhưng đã làm tan băng những bộ não và trái tim đã từ lâu đóng băng vì hết nhiệt huyết của chúng tôi.
Cảm ơn các em, chúng tôi xin hứa, dù muộn, nhưng chúng tôi sẽ thay đổi...
(Trích Những giọt máu đỏ rơi trên tuyết trắng..., Nguyễn Phước Thắng, dẫn theo baomoi)
Câu 1. Đoạn trích trên sử dụng những phương thức biểu đạt chủ yếu nào?
Câu 2. Theo tác giả tại sao khi lịch sử gọi, đã gọi tên các em, chứ không phải là thế hệ chúng tôi?
Câu 3. Cho biết hiệu quả biểu đạt của biện pháp tu từ so sánh sử dụng trong câu văn: Màu áo đỏ của các em giống như những giọt máu đỏ của những người lính rơi trên tuyết lạnh nhưng đã làm tan băng những bộ não và trái tim đã từ lâu đóng băng vì hết nhiệt huyết của chúng tôi.
Câu 4. Anh/ Chị có đồng ý rằng: lịch sử luôn đặt trọng trách lên vai lứa tuổi 20 không? Tại sao?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)Từ những gợi ý trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) với chủ đề: Tổ quốc rất cần những con người có trái tim nhiệt huyết.
Câu 2 (5,0 điểm)
Cảm nhận về bức ảnh nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017).
Từ đó liên hệ với hình tượng Cửu Trùng Đài trong đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích vở kịch Vũ Như Tô) của Nguyễn Huy Tưởng (Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017) để làm nổi bật quan niệm về mối quan hệ của nghệ thuật và cuộc sống của hai nhà văn này.
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Câu 1. Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên: phương thức biểu đạt nghị luận và phương thức biểu đạt tự sự/ Nghị luận và tự sự.
Câu 2. Đây là câu kiểm tra năng lực nắm bắt thông tin, HS dựa vào đoạn trích trả lời.
Tham khảo câu trả lời dưới đây:
Theo tác giả: khi lịch sử gọi tên, đã gọi tên các em, chứ không phải là thế hệ chúng tôi vì: các em còn quá trẻ, mới chỉ 20 tuổi nhưng đã mang trên vai trọng trách lấy lại niềm tin và niềm tự hào của cả một dân tộc. Trọng trách mà thế hệ chúng tôi, một thế hệ chưa già nhưng đã nguội lạnh, đã đổ trách nhiệm đó cho ai khác.
Câu 3. Tác dụng của phép so sánh:
Phép so sánh trong câu: Màu áo đỏ của các em giống như những giọt máu đỏ của những người lính rơi trên tuyết lạnh, nhưng đã làm tan băng những bộ não và trái tim đã từ lâu đóng băng vì hết nhiệt huyết của chúng tôi có tác dụng tạo ấn tượng mạnh mẽ ở người đọc về vẻ đẹp của tinh thần quả cảm U23 Việt Nam đã làm tan băng giá trong trái tim mọi người và thổi bùng ở họ lòng nhiệt huyết.
Câu 4. Học sinh có thể đồng ý hoặc không đồng ý với quan điểm của tác giả đoạn trích nhưng lập luận phải tích cực, chặt chẽ, thuyết phục. Dưới đây là gợi ý tham khảo:
- Đồng ý: Lứa tuổi 20 là lứa tuổi đẹp nhất của con người, khi đó con người tràn đầy sức sống, tình yêu và lòng nhiệt huyết sẵn sàng cống hiến cho tổ quốc.
- Không đồng ý: Lứa tuổi 20 đa số còn vụng dại, chưa có nhiều kinh nghiệm và hiểu biết sâu sắc trong cuộc sống; còn đang chập chững bước vào đời nên dễ sai lầm, va vấp. Hơn nữa cống hiến cho tổ quốc thì ở bất kỳ lứa tuổi nào cũng cần thiết, không riêng gì tuổi trẻ.
- Vừa đồng ý vừa không đồng ý: (Kết hợp cả hai ý kiến trên).
II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm)
[Đ] Đất nước của chúng ta trường tồn đến hôm nay bởi ở bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử cũng có những con người tràn đầy nhiệt huyết, sẵn sàng cống hiến, hy sinh cho đất nước. Do vậy mà: Tổ quốc rất cần những con người có trái tim nhiệt huyết, những con người có trái tim nhiệt huyết là những người có tình yêu cháy bỏng với công việc mình làm với quê hương đất nước, sẵn sàng cống hiến tất cả tâm sức của mình cho cuộc đời.
[G] Trong lịch sử, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, những người con ưu tú của đất nước đã không tiếc máu xương của mình để chiến đấu giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Họ đã góp phần làm nên những chiến công vang dội, hào hùng như Bạch Đằng, Chi Lăng, Điện Biên Phủ Đại thắng mùa xuân năm 1975... Trong cuộc sống hiện nay, rất nhiều người với lòng nhiệt huyết của mình đã và đang đi đầu trong các lĩnh vực: khoa học công nghệ, xóa đói giảm nghèo, khắc phục thiên tai dịch bệnh… Họ là những con người đầy quả cảm trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, thể thao góp phần đẩy nhanh sự phát triển của đất nước, đưa hình ảnh của Việt Nam đến với bạn bè thế giới.
[M] Bệnh cạnh những con người tràn đầy nhiệt huyết đang ngày đêm cống hiến thì còn một bộ phận không nhỏ sống thờ ơ vô cảm với những vấn đề chung của cộng đồng, đất nước. Và nhiệt huyết không chỉ có lợi cho đất nước mà còn làm cho cuộc sống của chúng ta đẹp hơn, có ý nghĩa hơn.
[B] Lứa tuổi thanh niên là lứa tuổi đẹp nhất của cuộc đời, cần có một trái tim nhiệt huyết để có được thành công trong cuộc sống và cống hiến cho xã hội. Và thật đáng buồn nếu ta sống với một trái tim nguội lạnh khi còn đang trẻ tuổi.
Câu 2 (5,0 điểm)
1. Giới thiệu đôi nét về tác giả Nguyễn Minh Châu, truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa và ý nghĩa của bức ảnh nghệ thuật.
2. Yêu cầu cơ bản:
a) Hoàn cảnh sáng tác bức ảnh nghệ thuật:
– Phùng được trưởng phòng giao cho nhiệm vụ đi chụp một bức ảnh cảnh biển để bổ sung vào bộ lịch Thuyền và Biển. Sau mấy buổi sáng phục kích, anh đã phát hiện ra một cảnh đắt trời cho là cảnh chiếc thuyền lưới vó thu lưới lúc bình minh trên mặt biển mờ sương. Tất cả bức khung cảnh đó từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó, người nghệ sĩ trở nên bối rối trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào.
Đặc biệt hơn, Phùng còn khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn.
– Phùng đã bấm máy hết cả cuộn phim để thu vào ống kính cảnh đẹp tuyệt vời đó của tạo hóa.
b) Sự thật cuộc đời đằng sau bức ảnh nghệ thuật:
– Khi con thuyền tiến vào bờ, nghệ sỹ Phùng phải chứng kiến một cảnh tượng đầy nghịch lý. Trên con thuyền ngư phủ bước ra hai vợ chồng người thuyền chài, gã đàn ông vũ phu đánh đập vợ một cách dã man, đứa con trai nhỏ để bảo vệ mẹ đã chống lại bố.
– Tất cả những cảnh đó khiến Phùng cay đắng nhận ra: đằng sau cái toàn bích toàn thiện toàn mĩ là cái xấu, cái ác, cái trái ngang. Có thể nói, chính những bi kịch trong gia đình thuyền chài kia là thứ thuốc rửa ảnh quái đản làm bức hình kì diệu anh mới dày công chụp được bỗng hiện hình một cách khủng khiếp, ghê rợn.
c) Vẻ đẹp khuất lấp của người đàn bà hàng chài:
– Sau khi chứng kiến cảnh gã chồng vũ phu đánh đập vợ một lần nữa, nghệ sỹ Phùng cùng bạn là chánh án Đẩu đã mời người đàn bà lên tòa án huyện để thuyết phục chị ly hôn với gã chồng vũ phu. Nhưng qua những lời giãi bày của chị ở tòa án huyện, nghệ sỹ Phùng và bạn mới nhận ra nhiều vẻ đẹp khuất lấp của người đàn bà hàng chài.
– Đó là vẻ đẹp của tình mẫu tử, của đức hy sinh, sự trải đời. Chị không sống cho mình mà sống cho các con, vì các con mà chị van xin được sống với gã chồng vũ phu để có người chèo chống con thuyền mỗi khi giông bão đặng nuôi nấng các con. Trong đau khổ chị vẫn chắt lọc được những niềm vui, niềm hạnh phúc giản dị vui nhất là nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no...
d) Cảm nghĩ của nghệ sỹ Phùng khi ngắm bức ảnh nghệ thuật:
– Tấm ảnh Chiếc thuyền ngoài xa được những người yêu nghệ thuật đánh giá cao. Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau nó vẫn còn giữ nguyên giá trị. Có thể nói cách khác, tấm ảnh ấy cũng được treo trong những phòng khách sang trọng của những người sành nghệ thuật. Sự đánh giá cao ấy xứng đáng với công sức mà Phùng đã bỏ ra để "phục kích" nhiều ngày mới chộp được nó. Đó là vẻ đẹp mà có khi cả đời Phùng chỉ nắm bắt được một lần.
Những người yêu nghệ thuật trân trọng tấm ảnh ấy cũng là điều dễ hiểu. Song, có khi họ là những người yêu nghệ thuật thuần túy, cảm nhận cái đẹp trên bình diện của một tấm ảnh toàn bích, đáng thưởng thức, đáng treo ở những nơi sang trọng nhất.
– Nhưng với nghệ sỹ Phùng nó không chỉ là bức ảnh nghệ thuật mang vẻ đẹp lãng mạn mà mỗi khi nhìn kỹ anh lại thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai và như thấy người đàn bà ấy bước ra khỏi tấm ảnh tấm lưng áo bạc phếch, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm...
– Ý nghĩa:
+ Màu hồng hồng của ánh sương mai là biểu tượng cho cái đẹp lãng mạn của bức ảnh nghệ thuật.
+ Hình ảnh người đàn bà hàng chài lam lũ bước ra khỏi bức ảnh là biểu tượng cho mặt trái của cuộc đời mà bức ảnh nghệ thuật không khám phá và miêu tả được hết.
+ Qua hai chi tiết này, Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm nhiều thông điệp về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống: Nghệ thuật phải bắt nguồn từ cuộc đời và vì cuộc đời mà có. Trách nhiệm đặt ra với người nghệ sĩ là phải thu hẹp khoảng cách giữa nghệ thuật và đời sống. Người nghệ sĩ chân chính đừng bao