MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MARKETING TẠI CÔNG TY HOÀN VŨ
4.1.1. Môi trường kinh doanh của công ty
Môi trường kinh doanh luôn thay đổi không ngừng mang lại cho các doanh nghiệp những cơ hội và những thách thức mới. Do đó để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải biết tận dụng những cơ hội dựa trên các thế mạnh của mình nhằm khắc phục những yếu kém và nguy cơ có thể gây ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó môi trường vi mô là môi trường đáng quan tâm vì nó tác động trực tiếp đến doanh nghiệp.
Về nhà cung cấp :
Hiện nay nguồn cung cấp khá dồi dào, công ty có một số nhà cung cấp khá ổn định, đây là thế mạnh của công ty, công ty nên có quan hệ tốt để giữ vững nguồn cung cấp này. Nguồn cung cấp chủ yếu từ các tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Ninh Thuận, Bình Thuận... ngoài ra có một số mặt hàng thủy sản khác cũng do nhiều nơi cung cấp nhưng thường qua trung gian do đó mà số lượng cung ứng không được ổn định, nên công ty chỉ kinh doanh khi có khách hàng ký hợp đồng, trong số các nguồn cung ứng đó thì Ninh Thuận là nguồn cung cấp chủ yếu của công ty chiếm tỷ trọng lớn hơn 50% về giá trị và sản lượng. Sở dĩ công ty thu mua nguyên liệu thủy sản ở tỉnh này với số lượng lớn là do Ninh Thuận có nguồn địa lý đã tiêu chuẩn hóa thông qua đánh giá của khách hàng, hơn nữa việc mua bán ở đây luôn diễn ra nhanh chóng, nguồn hàng luôn có sẵn tuy giá có cao hơn các nguồn cung ứng khác. Còn đối với Bỡnh Thuận tại đõy giỏ trị cung ứng của tỉnh này khụng lớn chỉ đạt ẵ giỏ trị cung ứng tại Ninh Thuận. Mặc dù Bà Rịa Vũng Tàu là nguồn cung ứng gần nhất cho công ty nhưng tỷ trọng lại khá thấp do sản phẩm tại đây không được khách hàng ưa chuộng nhiều.
Về khách hàng:
Khách hàng tiêu thụ mạnh nhất là thị trường Tp.Hồ Chí Minh, do uy tín thương hiệu và chất lượng sản phẩm, đây là lợi thế cho công ty về chi phí lưu thông.
Công ty nên phát huy thế mạnh của thương hiệu nâng cao chất lượng sản phẩm và nỗ lực hơn nữa trong lĩnh vực Marketing để mở rộng thị phần, lôi kéo khách hành tiềm năng. Ngoài ra công ty còn có một thị trường khá lớn đó là miền Tây, khi khu vực này phát triển thì đây là thị trường tiêu thụ lớn mạnh. Bên cạnh đó còn có thị trường Đông Nam Bộ, hiện nay khu vực này đang phát triển, công ty nên thâm nhập sâu vào thị trường này. Hàng năm có một lượng khá lớn khách vãng lai trong và ngoài nước đến
Tp.Hồ Chí Minh làm việc, tham quan, du lịch... Nếu biết khai thác công ty sẽ có một phân khúc thị trường quan trọng. Bên cạnh đó công ty còn phải đối mặt với sự đe dọa do sức ép mặc cả của khách hàng, họ sẽ đòi hỏi những sản phẩm có chất lượng cao, nhưng giá phải hạ kèm theo các dịch vụ hậu mãi. Đây là một yêu cầu rất căng đối với hầu hết các công ty ngày nay theo phương chăm “Khách hàng là vua, là thượng đế và luôn luôn đúng”.
Về đối thủ cạnh tranh:
Hoạt động của công ty thuộc lĩnh vực kinh doanh thủy hải sản, là ngành mà hiện nay có khá nhiều công ty trong nước lẫn nước ngoài quan tâm. Đối thủ cạnh tranh rất đa dạng và phức tạp có thể chia thành hai loại sau:
Đối thủ cạnh tranh trong nước.
Việt Nam là nước có diện tích bờ biển rất lớn do đó người dân ở những vùng lân cận biển sống chủ yếu vào ngành nuôi trồng đánh bắt thủy sản tạo điều kiện ra đời các doanh nghiệp, xí nghiệp với nhiều quy mô lớn bé khác nhau về nhân lực, vốn kinh doanh, máy móc thiết bị.... trong đó lợi thế của doanh nghiệp này hơn ta ở chỗ họ có trụ sở đặt tại vùng cung cấp nguyên liệu, do đó nếu vùng đó có danh tiếng về một mặt hàng cụ thể nào đó tức thì danh tiếng của doanh nghiệp cũng sẽ được tác động đến, hơn nữa việc nắm bắt thông tin thị trường, điều kiện tự nhiên của các doanh nghiệp này nhạy bén có thể giúp họ dự đoán được những phản ứng của đối thủ cạnh một cách tốt nhất.
Đối thủ cạnh tranh ngoài nước:
Hiện các nước Châu Á đang là những đối thủ cạnh tranh đối với Việt Nam nói chung và Hoàn Vũ nói riêng. Trong các đối thủ nước ngoài thì Hàn Quốc là thị trường nhập khẩu thủy sản chủ lực của công ty, thế như trong 10 mặt hàng nhập khẩu vào Hàn Quốc thì công ty chỉ tham gia mạnh vào 2,3 mặt hàng trong khi các đối thủ cạnh của công ty trên thị trường này như: Inđônêxia, Thái Lan, Trung Quốc... lại tham gia rất mạnh, đặc biệt là cá biển. Đây là điểm mà công ty cần phải đối điện để khắc phục.
Về sản phẩm thay thế:
Không phải là món ăn bình dân nên hải sản cũng không phải là sự lựa chọn đầu tiên của người tiêu dùng. Hiện nay các sản phẩm thay thế như thịt gia súc, gia cầm... đang được nhiều người tiêu dùng lựa chọn ngang nhau, vì vậy một khi có sự biến động về giá cả hay chất lượng sản phẩm chắc chắn người tiêu dùng sẽ dễ dàng thay đổi sở thích của họ. Hơn nữa trong những năm gần đây tình trạng dịch bệnh ở gia súc như : bệnh bò điên, lỡ mồm long móng và gần đây nhất là dịch cúm gà xảy ra hàng lọat ở một số nước trên thế giới cho thấy khả năng thị hiếu tiêu dùng sản phẩm này sẽ giảm sút đáng kể. Đây là những cơ hội tốt góp phần giảm bớt phần nào về áp lực thay thế đối với sản phẩm thủy sản hiện nay.
Môi trường kinh tế :
Năm 2003 là năm giữa, có vị trí “bản lề” trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm (2001-2005) . Kỳ họp thứ II quốc hội khóa XI đã thông qua nghị quyết về nhiệm vụ
24
năm 2003 đối với mục tiêu tổng quát là duy trì tốc độ phát triển kinh tế cao và bền vững.
Mặc dù tình trạng khủng hoảng kinh tế của Nhật Bản vẫn chưa được khởi sắc hoàn toàn, song theo bộ công nghiệp cho biết Nhật Bản vẫn là đối tác hàng đầu trong lĩnh vực thương mại và là nhà đầu tư lớn nhất trong 660 quốc gia vùng lãnh thổ vào Việt Nam. Hơn 1500 công ty Nhật Bản đã đầu tư vào Việt Nam.
Tình hình kinh tế Việt Nam qua các năm Năm Tỉ lệ lạm
phát
GDP NL – TS CNXD Dịch vụ
1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
3.6 9.2 0.1 0.6 0.8 4.0 2.3
8.2 5.8 4.8 6.7 6.8 6.9 7.2
4.3 3.5 5.2 4.0 2.8 3.4 3.2
12.6 8.3 7.7 10.1 10.4 9.8 10.34
7.1 5.1 2.3 5.6 5.1 6.1 6.57
Nguồn : 1080
Năm 2003 mặc dù phải đương đầu với những thách thức rất lớn ở trong và ngoài nước nhưng đất nước ta tiếp tục thu được những thành tựu quan trọng và khá toàn diện. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 7,2% cao hơn 2001 là 8,6%. Các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp xuất khẩu và một số hoạt động dịch vụ, đặc biệt là du lịch, hàng không, bưu chính viễn thông đều phát triển khá hơn năm trước đạt 6,57%.
Tình hình lạm phát có sự thay đổi rõ rệt đó là sự tăng đáng kể từ 0,8% vào năm 2001 lên 4% vào năm 2002. Điều này cho thấy nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất và cá nhân tăng cao, thị trường sôi động hẳn, song năm 2003 thị trường đã có dấu hiệu bão hòa dần với tỷ lệ lạm phát 2,3%. Riêng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đạt kế hoạch ở mức thấp 3,4% vào năm 2002 nhưng vẫn cao hơn năm trước (2001) chỉ đạt ở mức 2,8%. Xuất khẩu tăng chậm hơn GDP, đầu tư trực tiếp vào nước ngoài giảm nhiều về số mới đăng ký. Năm 2002 nhập siêu gần gấp đôi năm trước, bội chi ngân sách chưa giảm, tỷ lệ nợ quá hạn có giảm nhưng còn cao.
Chỗ yếu của nền kinh tế hiện nay là tốc độ tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn rất hạn chế và chưa chuyển biến tích cực biểu hiện ở chi phí sản xuất tăng nhanh, giá thành nhiều, sản phẩm và dịch vụ chủ yếu cao hơn nhiều so với giá
quốc tế, nhịp độ tăng năng suất lao động giảm, hiệu quả vốn đầu tư của toàn xã hội còn thấp, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, môi trường đầu tư còn nhiều ách tắc làm ảnh hưởng đến vốn đầu tư trong và ngoài nước. Trước tình hình này các doanh nghiệp trong nước phải đối đầu với nhiều khó khăn chịu sức ép mạnh từ các đối thủ cạnh tranh nước ngoài và Hoàn Vũ cũng không ngoại lệ.
Môi trường chính trị pháp luật ;
Theo khảo sát gần đây của tổ chức rủi ro kinh tế và chính trị (PERC) với giới kinh doanh thì Việt Nam và Trung Quốc đều được xếp vào những nước có khả năng chịu rủi ro từ bên ngòai nhất Châu Á. Đây là những bước đấu thuận lợi cho càc doanh nghiệp Việt Nam tham gia “trực diện” cạnh tranh với doanh nghiệp trong khu vực.
Thêm vào đó, luật doanh nghiệp dcủa nước ta đang dần hòan thiện, các luật lệ và chính sách cho đầu tư ngày càng thông thóang. Ngòai ra nước ta đưa ra nhiều chính sách bảo hộ tăng khả năng cạnh tranh và xuất khẩu hàng hóa nhiều hơn, cụ thể :
_ Thủ tướng chính phủ đã ban hành chỉ thị 31/2001/công ty/TTG (ngày 31/12/2001) về đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả họat động xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2002, trong đó thủ tướng yêu cầu tăng cường đầu tư nâng cao năng lực hàng xuất khẩu, chú trọng tăng trưởng khả năng ổn định, sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu trong nước sản xuất được như : thủy sản, gia cầm, gạo, càfê.
_ Ngày 12/3/2002 TTCP đã có quyết định số 269/QĐ/TTG sữa dổi hai điều quy định số 61/QĐ/TTG ngày 17/1/2002 của Thủ Tướng về việc hỗ trợ phát triển thị trường xuất khẩu thủy sản. Theo đó :
~ Sữa đổi điều 2 QĐ số 61/QĐ/TTG như sau : cho phép bộ thủy sản thành lập quỹ phát triển thị trường xuất khẩu thủy sãn, giao hiệp hội chế biến về xuất khẩu thủy sản quản lý và sử dụng quỹ này. Các tổ chức cá nhân xuất khẩu thủy sản tham gia đóng góp cho quỹ trên nguyên tắc tự nguyện và theo quy định của hội đồng quản lý quỹ.
~ Và theo quy định mới nhất các mặt hàng được hưởng tín dụng hỗ trợ xuất khẩu được ban hành tại quyết định 0171/2003/QĐ-BTM ngày 13/3/2003 trong đó có mặt hàng thủy sản.
Môi trường văn hóa – xã hội:
Mặc dù lĩnh vực xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc song với tình hình thu nhập hiện nay của người dân thành phố ngày càng cao dẫn đến lối sống cũng thay đổi.
Các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa đã và đang được sự hỗ trợ của Trung tâm khuyến ngư trung ương và trung tâm khuyến ngư của tỉnh trong việc cải tạo đời sống nhân dân thông qua phát huy lợi thế về thủy sản.
Điều này góp phần giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp nhân dân, giữa các vùng. Bên cạnh đó, chất lượng giáo dục đào tạo và y tế ngày càng phát triển đặc biệt là Tp.Hồ Chí Minh. Đây cũng là một điều kiện thuận lợi cho công
26
ty trong lĩnh vực kinh doanh của mình với một lực lượng lao động dồi dào, trình độ cao.
Môi trường công nghệ:
Ngày nay mức độ tăng trưởng của các nước đang phát triển bị chi phối bởi các công nghệ hiện đại một cách mạnh mẽ. Những năm gần đây công nghệ đông lạnh phục vụ cho việc bảo quản thủy sản tươi sống ngày càng hoàn thiện và được nước ta áp dụng một cách tích cực. Tuy nhiên do việc đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực. Cụ thể, Tp.HCM là địa bàn chiếm vị trí cao nhất về xuất khẩu thủy sản của cả nước nhưng số máy cấp đông của địa bàn này đa số vẫn là tủ đông tiếp xúc (CF), ngoài ra còn các máy cấp đông băng truyền (BF), đông rời(IQF), đông gió(AF), và một số máy mới nhưng công nghệ cũ, thiếu đồng bộ. Các máy hỗ trợ sản xuất nchế biến còn rất ít, quy trình sản xuất vẫn còn ở dạng thủ công.
Môi trường tự nhiên
Từ năm 2001 phong trào nuôi trồng thủy sản đã phát triển đều khắp trên cả nước theo nhiều phương thức, mô hình và đối tượng khác nhau. Thấm nhuần Nghị quyết 09/2002/NQ-CP của Chính phủ về một số chủ trương chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, hầu hết các địa phương đã chủ động thực hiện chuyển đổi canh tác nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản.
Tính chung, diện tích chuyển đổi đối tượng sản xuất từ nông sang ngư trong cả nước là trên 220.000 ha. Năm 2002, theo Bộ Thủy Sản đánh giá thì sản lượng nuôi trồng và khai thác nội địa là 950.000 tấn với diện tích mặt nước là 940.000 ha, trong đó nuôi lợ, mặn, biển là 520.000 ha, nuôi ngọt là 420.000 ha.