Rủi ro của doanh nghiệp là một sự không may mắn, không nhƣ dự định, một điều bất trắc có thể dẫn đến một thiệt hại nhất định. Hay nói cách khác rủi ro là một tình huống mà tại đó những sự cố không tốt đẹp xảy ra dẫn đến công ty bị thua lỗ hay bị phá sản mà các công ty luôn tìm cách để tránh né hoặc hạn chế nó.[8, tr 296]
2.3.2. Phân loại rủi ro 2.3.2.1. Rủi ro kinh doanh
Khái niệm: Rủi ro kinh doanh là loại rủi ro do sự biến động bất lợi của thị trường làm doanh thu giảm nên EBIT của doanh thu thấp hay bị lỗ. Dù doanh nghiệp ở trong giai đoạn nào của chu kỳ sống thì vẫn phải đối phó với rủi ro kinh doanh nhƣng mức độ khác nhau ở những giai đoạn khác nhau và giai đoạn khởi sự là giai đoạn có mức rủi ro cao nhất.[8, tr 296]
Rủi ro kinh doanh là dạng rủi ro tiềm ẩn trong từng bản thân doanh nghiệp, người quản lý có thể giảm thiểu rủi ro kinh doanh nhưng không thể triệt tiêu. Rủi ro kinh gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp bao gồm những điều kiện không chắc chắn xung quanh các khoản chi phí hoạt động và các khoản thu nhập. Những doanh nghiệp hoạt động cùng ngành thường đối phó với những nhân tố gây ra rủi ro kinh doanh là tương tự nhau bởi các doanh nghiệp này phải đối mặt với những điều kiện kinh tế khá giống nhau. Ban lãnh đạo doanh nghiệp có thể giữ một vai trò kiểm soát quan trọng đối với mức rủi ro kinh doanh thông qua những dự án đầu tƣ công nghệ và các chiến lƣợc đầu tƣ cụ thể.
Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro kinh doanh bao gồm: sự biến động doanh số theo chu kỳ kinh doanh, biến đổi giá bán, biến đổi chi phí, mức độ cạnh tranh trên
thị trường, khả năng đa dạng hóa sản phẩm và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp. Ngoài những yếu tố trên, rủi ro kinh doanh còn chịu ảnh hưởng bởi sự dự báo về mức cầu trong tương lai của sản phẩm sản xuất ra, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, năng lực trình độ quản lý doanh nghiệp, trình độ nhân lực, tiềm lực về tài chính, vị trí địa lý, khu vực thị trường mà doanh nghiệp đang hoạt động, chính sách nhà nước...Mức độ rủi ro của doanh nghiệp phụ thuộc vào cấu trúc chi phí của doanh nghiệp. Khi định phí chiếm tỷ trọng cao trong doanh nghiệp sẽ đối phó với rủi ro kinh doanh cao. [8, tr 296-298]
2.3.2.2. Rủi ro tài chính
Khái niệm rủi ro tài chính là rủi ro xảy ra khi doanh nghiệp không có khả năng chi trả các khoản chi phí tài chính cố định nhƣ lãi vay, cổ tức cổ phần ƣu đãi và các chi phí tài chính khác.[8, tr 296]
Khi doanh nghiệp gia tăng tỷ trọng nguồn tài trợ có chi phí cố định trong cơ cấu nguồn vốn thì dòng tiền tệ cố định chi ra để trả lãi hoặc cổ tức cũng gia tăng.
Kết quả là xác suất mất khả năng chi trả tăng theo. Vì vậy độ bẩy tài chính có quan hệ mật thiết với rủi ro tài chính. Rủi ro tài chính là loại rủi ro gắn liền với quyết định tài chính của doanh nghiệp. Nói cách khác, rủi ro tài chính là hậu quả của việc sử dụng đòn cân nợ trong cấu trúc tài chính. Rủi ro tài chính có thể bị triệt tiêu nếu trong cấu trúc tài chính của doanh nghiệp đƣợc tài trợ bằng 100% vốn chủ sở hữu.
Khi sử dụng các chỉ tiêu trên để đánh giá hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính thì mới chỉ xét đến mặt tác động trực tiếp của đòn bẩy tài chính lên thu nhập trên vốn cổ phần thường hay tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Bên cạnh đó việc gia tăng mức độ tác động của đòn bẩy tài chính thì giải pháp chính là gia tăng sử dụng nợ, mà việc gia tăng sử dụng nợ thì nó lại kéo theo sự gia tăng rủi ro đối với doanh nghiệp. Nên khi đánh giá hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính thì còn phải xét cả vấn đề rủi ro mà doanh nghiệp phải gánh chịu khi doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính. Nếu chỉ xét đơn thuần các chỉ tiêu trên thì đó mới chỉ là đánh giá hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính trên một vài góc độ, bên cạnh đó cần phải xem xét đến rủi ro tài chính. Một doanh nghiệp đƣợc gọi là sử dụng hiệu quả đòn bẩy tài chính thì đòn
bẩy tài chính trong doanh nghiệp phải khuyếch đại đƣợc thu nhập trên vốn cổ phần thường hay tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu là lớn nhất và rủi ro mà doanh nghiệp phải chịu là ở mức thấp nhất có thể.
Do vậy việc tìm hiểu về rủi ro đối với doanh nghiệp trong việc nghiên cứu để làm tăng hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính là một việc quan trọng và mang tính cần thiết cao. Để đánh giá mức độ rủi ro của một doanh nghiệp thì có rất nhiều chỉ tiêu tài chính, nhƣng để có thể thấy rõ và dễ nhận xét thì có thể thông qua tính toán một số các chỉ tiêu về khả năng thanh toán của doanh nghiệp đó.
Chẳng hạn nhƣ các chỉ tiêu sau:
Tỷ suất thanh toán chung = Đ ổ ợ ắ ạ Tỷ suất thanh toán nhanh = Đ à ồ
ổ ợ ắ ạ Tỷ suất thanh toán tức thời = ề ặ
ổ ợ ắ ạ
Các chỉ tiêu này đƣợc so sánh với chỉ tiêu trung bình của ngành nhƣng nếu không có thì có thể so sánh năm trước với năm sau để thấy mức độ rủi ro của doanh nghiệp đó tăng hay giảm, từ đó mà có thể nhận xét đánh giá đƣợc.[8, tr 297-298 ] Phương thức đo lường rủi ro tài chính khác
Rủi ro đƣợc đề cập ở đây là khả năng xảy ra khác biệt giữa lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng. Để đo lường rủi ro người ta dùng phân phối xác suất với hai tham số đo lường phổ biến là lợi nhuận kỳ vọng và độ lệch chuẩn.
Lợi nhuận kỳ vọng và độ lệch chuẩn
Lợi nhuận kỳ vọng, ký hiệu là E(R) đƣợc định nghĩa nhƣ sau:
n
i
i
i P
R R
E
1
) )(
( )
( ( ∑Pi = 1 )
Ri: lợi nhuận ứng với biến cố i Pi: xác suất xảy ra biến cố i n: số biến cố có thể xảy ra
Nhƣ vậy, lợi nhuận kỳ vọng chẳng qua là trung bình gia quyền của các lợi nhuận có thể xảy ra với trọng số chính là xác suất xảy ra.
Để đo lường độ phân tán hay sai biệt giữa lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng, người ta dùng độ lệch chuẩn (). Độ lệch chuẩn chính là căn bậc hai của phương sai:
n
i
i
i E R P
R
1
2( ) )
(
Hệ số biến đổi (Coefficient of variation - CV)
Độ lệch chuẩn đôi khi cho chúng ta những kết luận không chính xác khi so sánh rủi ro nếu nhƣ quy mô lợi nhuận kỳ vọng khác nhau. Để khắc phục tình trạng này, chúng ta dùng chỉ tiêu hệ số biến đổi:
) ( R CV E
Nhiều doanh nghiệp trong những ngành khác nhau (có mức độ khác nhau về đòn cân định phí) có thể khác nhau về đòn cân nợ. Nhìn chung, các doanh nghiệp lệ thuộc vào rủi ro kinh doanh cao có khuynh hướng sử dụng tương đối ít nợ hơn những doanh nghiệp chỉ có mức rủi ro kinh doanh hạn chế. Nhƣng những doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ vay sẽ có mức rủi ro tài chính cao hơn doanh nghiệp sử dụng ít nợ vay. Tuy nhiên, những khuynh hướng vừa nêu trên là bình thường.
Các chỉ số để đo lường rủi ro tài chính là:
Hệ số biến đổi của EBIT (CVEBIT = EBIT/ E(EBIT))
Độ bẩy tài chính (DFL)
Độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên cổ phần (EPS)
Hệ số biến đổi của EPS ( CVEPS = EPS/ E(EPS)) Cần lưu ý cách tính độ lệch chuẩn của EPS như sau:
Trong đó:
PD: cổ tức cổ phần ƣu đãi
NS: số lượng cổ phiếu đang lưu hành
Các chỉ số trên càng lớn thể hiện tác động của đòn bẩy tài chính càng lớn thì rủi ro càng cao. Tuy nhiên, doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính với hy vọng là sẽ gia tăng được lợi nhuận cho cổ đông thường. Nếu sử dụng phù hợp, doanh nghiệp có thể dùng các nguồn vốn có chi phí cố định để tạo ra lợi nhuận lớn hơn chi phí trả cho việc huy động vốn có lợi tức cố định, phần lợi nhuận còn lại sẽ thuộc về cổ đông thường. Điều này thể hiện rõ hơn khi phân tích tác động nợ vay lên tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần; quan hệ giữa lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) với lợi nhuận trên cổ phần (EPS).[6, tr 10-11]