3.5. Mô hình nghiên cứu
3.5.2. Ý nghĩa các biến trong mô hình
Nhƣ đã đề cập ở phần trên, các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp là: tổng tài sản, tỷ lệ nợ ngắn hạn, tỷ lệ nợ dài hạn, tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận, doanh thu thuần/ tổng tài sản. Sau đây nghiên cứu sẽ đi vào khái quát các khái niệm, công thúc cũng nhƣ dấu tác động của các biến đối với đòn bẩy tài chính.
3.5.2.1. Tổng tài sản
Một số nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tổng tài sản cho thấy đƣợc quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực lên đòn bẩy tài chính theo nghiên cứu trước đây của Yujie Niu và Qian Dong ( 2012). Bên cạnh đó, những doanh nghiệp lớn hơn có xu hướng đa dạng hoá nhiều lĩnh vực và do đó ít đi đến phá sản. Như vậy kỳ vọng quy mô có ảnh hưởng tích cực lên đòn bẩy tài chính.
Tuy nhiên, những doanh nghiệp lớn hơn kỳ vọng thông tin không cân xứng ít hơn làm cho vấn đề vốn cổ phần thu hút hơn. Điều này ám chỉ mối tương quan tỷ lệ nghịch giữa quy mô và đòn bẩy tài chính. Ngoài ra, Titman and Wessels (1988) đã
Nợ ngắn hạn/ tổng tài sản
Nợ dài hạn/ tổng tài sản
Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận
Doanh thu thuần/ tổng tài sản
Lợi nhuận
phát biểu rằng nếu mối quan hệ này tồn tại, những doanh nghiệp nhỏ sẽ sử dụng nhiều nợ hơn trong huy động tài chính vì chí phí giao dịch trong trường hợp này cao.
3.5.2.2. Tỷ lệ nợ ngắn hạn
Tỷ lệ nợ ngắn hạn = à
Mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ ngắn hạn với đòn bẩy tài chính đƣợc xem xét với nhiều quan điểm khác nhau. Trong nghiên cứu của Modigliani và Miller (1963), hai ông cho rằng các doanh nghiệp thích sử dụng nợ để hưởng lợi từ tấm chắn thuế để làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp tăng hơn. Đồng thời, khi sử dụng nợ nhiều thì chi phí kiệt quệ tài chính của các doanh nghiệp này cũng tăng, do đó khi sử dụng nợ cũng có thể làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, điều này hàm ý chỉ một mối tương quan dương với tỷ lệ nợ .
Tuy nhiên, theo Myers va Majluf (1984), hai người này dự đoán một mối tương quan âm giữa đòn bẩy tài chính và tỷ lệ nợ vì khi doanh nghiệp có lợi nhuận cao thì lợi nhuận giữ lại cũng có thể cao nên doanh nghiệp ƣu tiên sử dụng vốn nội bộ, đồng thời có khuynh hướng giảm bớt đòn bẩy tài chính để giảm bớt rủi ro. Theo nghiên cứu của Yujie Niu và Qian Dong (2012) thì tỷ lệ nợ ngắn hạn có mối quan hệ nghịch chiều với đòn bẩy tài chính điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp càng vay nợ càng nhiều sẽ cho đòn bẩy tài chính ngày càng cao và làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm.
3.5.2.3. Tỷ lệ nợ dài hạn
Tỷ lệ nợ dài hạn = à
Mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ dài hạn với đòn bẩy tài chính đƣợc xem xét với nhiều quan điểm khác nhau. Trong nghiên cứu của Modigliani và Miller (1963), hai ông cho rằng các doanh nghiệp thích sử dụng nợ để hưởng lợi từ tấm chắn thuế để làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp tăng hơn. Đồng thời, khi sử dụng nợ nhiều thì chi phí kiệt quệ tài chính của các doanh nghiệp này cũng tăng, do đó khi sử dụng nợ
cũng có thể làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, điều này hàm ý chỉ một mối tương quan dương với tỷ lệ nợ .
Tuy nhiên những người ủng hộ lý thuyết trật tự phân hạng lại phản ứng với quan điểm trên. Tiêu biểu là Myers và Majluf (1984), hai người này dự đoán một mối tương quan âm giữa đòn bẩy tài chính và tỷ lệ nợ vì khi doanh nghiệp có lợi nhuận cao thì lợi nhuận giữ lại cũng có thể cao nên doanh nghiệp ƣu tiên sử dụng vốn nội bộ, đồng thời có khuynh hướng giảm bớt đòn bẩy tài chính để giảm bớt rủi ro. Theo nghiên cứu của Yujie Niu và Qian Dong (2012) thì tỷ lệ nợ ngắn hạn có mối quan hệ nghịch chiều với đòn bẩy tài chính điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp càng vay nợ càng nhiều sẽ cho đòn bẩy tài chính ngày càng cao và làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm.
3.5.2.4. Tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận
Tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận = ợ ậ ỳ à ợ ậ ỳ ướ ợ ậ ỳ ƣớ
Những doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng lớn sẽ sử dụng ít nợ để giảm những vấn đề đại diện (Meyers, 1977). Những nhà điều hành sẽ khuyến khích thay thế và chuyển đổi tài sản từ chủ nợ đến cổ đông, điều này sẽ làm nhà đầu tƣ yêu cầu tăng lãi suất trái phiếu và làm giảm việc vay mƣợn. Những doanh nghiệp có triển vọng tăng trưởng cao, sẽ dễ bỏ qua những cơ hội kinh doanh có lợi nhuận nếu đòn bẩy tài chính cao; do đó, những doanh nghiệp này thích vốn cổ phần hơn nợ. Kết quả là có sự tương quan nghịch giữa cấu trúc vốn và cơ hội tăng trưởng (-). Meyers (1977) cũng phát biểu rằng những vấn đề đại diện có thể giảm nhẹ nếu doanh nghiệp có nợ ngắn hạn nhiều hơn là nợ dài hạn. Vì vậy, mối tương quan nghịch có thể được mong đợi giữa cơ hội tăng trưởng và đòn bẩy tài chính.
Tuy nhiên, cũng có ý kiến tranh cãi rằng tốc độ tăng trưởng cao hơn ám chỉ nhu cầu nguồn tài chính huy động bên ngoài cao hơn. Bên cạnh đó, lý thuyết trật tự phân hạng dự báo rằng doanh nghiệp thích nợ hơn vốn cổ phần, điều này ám chỉ rằng mối tương quan thuận giữa cơ hội tăng trưởng và đòn bẩy tài chính.
3.5.2.5. Doanh thu thuần/ tổng tài sản DTT/TTS = ầ
ổ à ả
Theo nghiên cứu trước đây của Yujie Niu và Qian Dong ( 2012) thì biến doanh thu thuần/ tổng tài sản có mối quan hệ thuận chiều với đòn bẩy tài chính điều này thể hiện khi nhân tố này càng tăng lên sẽ làm cho hiệu quả của việc sử dụng đòn bẩy tài chính cũng tăng lên. Bên cạnh đó, những doanh nghiệp lớn hơn có xu hướng đa dạng hoá nhiều lĩnh vực và do đó ít đi đến phá sản. Nhƣ vậy kỳ vọng nhân tố này có ảnh hưởng tích cực lên đòn bẩy tài chính.