QUẢN LÝ VẬN HÀNH BỂ LỌC

Một phần của tài liệu kl le thi huyen 071371b (Trang 118 - 121)

Độ đục của nước sau lọc Thời gian giữa các chu kỳ lọc

Lượng nước rửa lọc so với lượng nước đã lọc được.

Điều thứ nhất:

Độ đục của nước sau lọc được theo dõi hai giờ 1 lần, bằng thiết bị đo độ đục đặt ở ống chính dẫn nước từ bể lọc về bể chứa, truyền trực tiếp về tủ điều khiển ở phòng thí nghiệm, hay bàn điều khiển. Nếu không trang bị thiết bị tự động hoặc thiết bị đo bị hư, thì phải lấy mẫu nước hai giờ 1 lần về phòng thí nghiệm để phân tích.

Khi thấy độ đục của nước sau lọc vượt quá tiêu chuẩn thì phải tìm nguyên nhân và khắc phục ngay.

Điều thứ hai:

Thời gian của mỗi chu kỳ lọc phụ thộc vào chất lượng nước thô, vận tốc lọc và tình trạng của lớp vật liệu lọc sau khi rửa. Giảm thời gian của mỗi chu kỳ lọc có thể do các nguyên nhân sau:

- Khi rửa lọc các vật liệu lọc có kích thước nhỏ, sẽ tập trung lên mặt trên cùng của lớp lọc.

- Nước từ bể lắng sang đục hơn bình thường.

- Lớp cát lọc rửa không sạch, có nhiều chỗ bị bùn đóng thành cục.

- Giữa các vật liệu lọc có nhiều bọt khí.

Điều thứ ba:

Lượng nước rửa lọc nếu chỉ chiếm 0,8 % ÷ 2 % lượng nước lọc, mà chu kỳ lọc không bị rút ngắn là đạt yêu cầu, nếu hơn thì cần phải xem xét lại toàn bộ lớp vật liệu lọc, cường độ và thời gian rửa lọc.

- Thực hiện đúng chế độ rửa lọc với cường độ, thời gian và trình tự rửa thích hợp là điều kiện quyết định đến hiệu quả làm việc của bể lọc.

- Để tránh làm sáo trộn lớp sỏi đỡ khi bắt đầu rửa, phải tăng từ từ cường độ gió, tránh cho gió vào bể lọc một cách đột ngột theo cường độ rửa ngay giây đầu tiên.

- Để giảm đến mức tối đa lượng nước lọc đầu có chất lượng xấu, sau khi rửa bể lọc bằng hai cách:

Cách thứ nhất: Cho bể lọc làm việc với tốc độ bằng nửa tốt độ lọc bình thường trong khoảng 30 phút đầu tiên.

Cách thứ hai: Rửa lọc đến lúc nước rửa có độ đục từ 30 ÷40 mg/l thì ngừng rửa. vì nếu cao hơn 40 mg/l, lớp cát lọc chưa được rửa sạch sẽ mau bị tắc. Còn nếu rửa có độ đục bé hơn, cát được rửa quá sạch làm bong mất lớp màng hấp thụ hoạt tính bọc sát hạt lọc, khả năng hấp thụ kém, chất lượng nước lọc đầu sẽ xấu.

Nhân viên vận hành phải luôn theo dõi lớp cát lọc trước và sau khi rửa:

- Trước khi rửa lọc: thấy mặt lớp cát lọc nhấp nhô, có bùn đọng là do phân phối nước vào không đều làm sói bề mặt lớp cát.

- Sau khi rửa lọc: thấy lớp cát lọc nhấp nhô, còn bùn đọng lại là do việc phân phối gió và nước rửa không đều.

Theo dõi độ đục nước rửa lọc: Lấy mẫu nước rửa để đo độ đục mỗi phút một lần, rồi vẽ trên biểu đồ để theo dõi.

Kiểm tra tình trạng của lớp vật liệu lọc: lấy mẫu vật liệu lọc trước khi rửa và sau khi rửa. Lấy ở ba điểm bất kỳ trong một bể lọc theo suốt chiều dày lớp vật liệu lọc. Đem mẫu đi phân tích ta sẽ biết được lượng cặn trong mẫu theo độ sâu của lớp cát lọc trước và sau khi rửa có thể đánh giá được.

- Độ rửa sạch của lớp cát lọc theo chiều cao.

- Độ chứa cặn của lớp cát lọc.

Từ kết luận trên có thể kết luận về tình trạng và khả năng làm việc của lớp lọc, để điều chỉnh cường độ rửa và chế độ rửa thích hợp nhất cho bể lọc.

Khi thấy chiều dày lớp cát lọc còn lại bằng 90% chiều dày ban đầu thì phải bổ sung vào cho đủ độ dày thiết kế. Còn độ hao hụt của lớp than Antraxit có thể từ 8 ÷ 12%.

Một phần của tài liệu kl le thi huyen 071371b (Trang 118 - 121)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(125 trang)