Chương 3: Tổ chức sản xuất và công nghệ sản xuất
4.3 Thực trạng VSLĐ và Bảo vệ môi trường
4.3.1 Các vấn đề về Ecgonomics
4.3.1.1. Thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi
Thời gian làm việc và nghỉ ngơi là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng tới năng xuất lao động, sức khỏe. Vì vậy việc sắp xếp hợp lý hai thời gian trên, không những đem lại năng xuất lao động mà còn giảm tai nạn lao động do yếu tố tâm lý và sinh lý
Hiện nay tại xí nghiệp thời gian làm việc cho toàn bộ cán bộ công nhân viên là 8h/ngày. Được phân bổ như sau:
Bảng 9:thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi
Đơn vị Giờ làm việc Giờ nghỉ giữa ca Khối hành chánh sự nghiệp
-Sáng: 7h30 đến 11h30 -Chiều: 12h30 đến 16h30
1giờ
Khối trực tiếp sản xuất -Ca 1: 7h30 đến 4h30
-Ca 2 : 21h đến 5h 1 giờ
Thời gian làm việc được chia làm hai ca trong ngày, ca làm việc được đổi luân phiên cho công nhân, một tuần làm ca ngày, một tuần làm ca đêm.
Năng xuất làm ca ngày thường cao hơn ca đêm, do tâm sinh lý ít bị thay đổi.
Thời gian ca đêm là thời gian nghỉ ngơi bình thường theo sinh lý con người, do vậy nếu làm việc ở ca này người lao động phải thay đổi thói quen trong thời gian ngắn vì thế gây mệt mỏi mất tập trung dễ gia công sai, dễ gây ra tai nạn, nhất là từ sau 23h đêm.
4.3.1.2. Tư thế lao động
Tư thế lao động trong công ty có hai tư thế chủ yếu tư thế đứng và ngồi, ngoài ra còn vài tư thế lao động khác
Tư thế lao động đứng là tư thế lao động của các công nhân đứng máy phay, tiện, bào …thời gian đứng máy là suốt quá trình làm việc (trừ thời gian nghỉ giữa ca 1 tiếng), những người công nhân đứng máy chỉ vận động trong tư thế đứng và đi lại là chủ yếu.
Đây là tư thế lao động cân bằng không vững. Diện tích chân đế là hai bàn chân và khoảng không gian giữa hai bàn chân. Ưu điểm là tư thế tự nhiên đối với lồng ngực, cột sống, xương chậu. Thuận lợi cho trường thị giác. Nhược điểm so với tư thế ngồi là mệt mỏi do căng thẳng để duy trì tư thế. Đứng lâu
tăng áp lực thủy tỉnh trên thành mạch, gây ứ máu các chi dưới gây bệnh giãn tĩnh mạch dưới.
Trong xưởng, người công nhân không có điều kiện nghỉ ngắn ở tư thế ngồi, vì công việc đòi hỏi độ chính xác cao do vậy phải quan sát, tập trung cao, kiên trì.
Tư thế ngồi là tư thế lao động của công nhân cuốn motor, sơn, mài bàn, hàn... đây là tư thế khá thoải mái. Nhưng chỉ có công nhân cuốn motor mới ngồi có điểm tựa, các công việc còn lại đều ngồi ở tư thế lom khom hoặc ngồi xổm và luôn thay đổi tư thế đứng lên ngồi xuống. Động tác này cũng làm giảm bớt căng thẳng trong một tư thế nhưng làm tiêu hao năng lượng nhanh và chóng mệt.
4.2.2. Công tác đo đạc đánh giá chất lượng môi trường 4.2.2.1. Kết quả đo đạc môi trường
Các yếu tố vi khí hậu
Tiêu chuẩn cho phép Nhiệt độ Độ ẩm Tốc độ gió (m/s)
32 80 1-5
Số
TT Vị trí đo
Số mẫu đạt TCVN
Số mẫu không đạt TCVN
Số mẫu đạt TCVN
Số mẫu không đạt TCVN
Số mẫu đạt TCVN
số mẫu không đạt TCVN 1 Phân xưởng 1
Máy khoan 30.3 64 5
Khu vực lắp ráp 30.5 64 0.5
Máy mài 30.4 63 0.1
Máy phay răng 30.5 64 0.3
2 Phân xưởng 2
Máy bào giường 30.8 64 2.2
Máy doa 30.7 63 1.7
Máy phay 30.8 63 0.5
Máy bào 30.8 63 0.4
Máy bào giường 30.8 62 1
Máy phay 30.7 62 2-3
Máy tiện số 15 30.6 62 2-8
Máy tiện 5 30.7 62 0.5
Máy tiện 7 30.7 62 1.5
Nhiệt độ ngoài trời lúc 9h30’
30.9
Tổng cộng 13 0 13 0 3 10
Các yếu tố vật lý Tiêu chuẩn
cho phép
Ánh sáng (Lux) Tiếng ồn (dBA) Bụi (mg/m3)
300 85 4
Số T
T Vị trí đo
Số mẫu đạt TCVN
Số mẫu không đạt TCVN
Số mẫu đạt TCVN
số mẫu không đạt TCVN
Số mẫu đạt TCVN
số mẫu không đạt TCVN 1 Phân
xưởng 1 Máy
khoan
240-250 83-84
Khu vực lắp ráp
110-130 84-85
Máy mài 560-270 83-84
Máy phay răng
460-470 82-83
2 Phân xưởng 2 Máy bào
giường
500-540 81-83 1.7
Máy doa 770-780 82-83
Máy phay 390-400 83-84
Máy bào 400-460 86-87 1.1
3 Phân xưởng 3 Máy bào
giường
190-200 84-85 87-89 1.2
Máy phay 140-150 0.9
Máy tiện số 15
80-110 83-84 85-87
Máy tiện 5 1100-1200 85-86
Máy tiện 7 260-280 0.6
Tổng cộng 7 6 9 4 5 0
4.2.3 Nhận xét kết quả đo đạc
Từ kết quả đo cho thấy hầu hết các yếu tố môi trường đều đạt TCVN, chỉ một số tiêu chuẩn tiếng ồn chưa đạt do tính chất của ngành gia công cơ khí. Tốc độ gió tại một số máy cũng chưa đạt, tuy nhiên yếu tố này có thể khắc phục được, chỉ cần điều chỉnh tốc độ gió quạt cục bộ. Xong nhìn thực tế thì kết quả đo vẫn còn chưa chính xác do còn thiếu khu vực sơn chưa được đo đạc.
Các yếu tố môi trường cho ta thấy được những tác động xấu do hoạt động sản xuất tạo ra, đó cũng là dấu hiệu của máy móc đến thời kỳ cần sửa chữa thay đổi, hay do sự bố trí sản xuất chưa hợp lý. Từ đó ta có thể tìm cách khắc phục để lao động sản xuất có năng xuất và cải thiện môi trường làm việc cho công nhân. Vì vậy cần đo đạc chính xác và đầy đủ môi trường lao động, để có hướng cải thiện tốt hơn.
4.2.3 Các công trình xây dựng nội bộ 4.2.3.1 Đường giao thông nội bộ
Toàn bộ nền nhà xưởng được đổ xi măng bằng phẳng và cứng vững.
Lối đi thông giữa các tổ rộng 5m xe tải nhỏ có thể vào tận cuối xưởng để bốc và dỡ hàng. Có hai cửa đi vào xưởng có chiều rộng bằng nhau 5m luôn mở
Do diện tích xưởng không quá lớn, nên số lượng xe vào trong khuôn viên sân để vô xưởng chỉ lần lượt từng xe. Xe của công nhân viên được sắp xếp khu vực riêng trong sân và được sắp xếp trật tự. Đảm bảo luôn thông thoáng lối đi lại vẻ đẹp mỹ quan.
4.2.3.2 Nhà vệ sinh
Khu vực nhà vệ sinh đặt bên trong xưởng, có tổng cộng 6 phòng vệ sinh, trong đó 4 phòng vệ sinh nam và 2 phòng vệ sinh nữ. Nhà vệ sinh nữ cùng trong khu vực nhưng được xây cao tường ngăn cách, một phòng thay quần áo chủ yếu cho nam sử dụng, mỗi nhà vệ sinh đều có một dãy vòi nước rửa tay.
Số lao động nữ tuy ít nhưng cần phải có phòng vệ sinh kinh nguyệt, hiện tại do nhà vệ sinh nữ sát với nhà vệ sinh nam nên công nhân nữ rất ngại khi vào sử dụng. Nhân viên nữ thuộc khối văn phòng dùng chung nhà vệ sinh với phòng giám đốc, nơi đây thường xuyên tiếp khách hàng và đối tác làm ăn nên cũng không ít bất tiện.
Tuy hàng ngày vẫn có một nữ lao công quét dọn và tẩy uế các phòng vệ sinh. Nhưng vẫn còn mùi khai bốc ra khó chịu cho khu vực gần như tổ motor, hay công nhân thường xuyên qua lại khu vực gần đó.
4.3.3.3 Nhà ăn tập thể
Do diện tích nhỏ nên công ty không có nhà ăn cho công nhân. Công nhân được hỗ trợ tiền ăn cho mỗi ca làm việc là 3.500 đồng. Công ty có một căng tin nhỏ, dùng phục vụ cơm trưa cho ban giám đốc và nhân viên. Ngoài ra căng tin còn đảm nhiệm cung cấp nước uống cho công nhân viên. Căng tin có diện tích nhỏ 32m2 nên rất nóng khi nấu ăn, nhưng sạch sẽ gọn gàng.
4.3.3.4 Các công trình xử lý nước thải
Xử lý chất thải rắn
Chất thải rắn của công ty là các loại phôi vụn sinh ra từ các máy gia công kim loại. Tất cả đều được thu gom và bán cho các xưởng tái chế kim loại.
Các loại rác thải sinh hoạt và giẻ lau máy, số lượng ít công ty không phân loại mà nhập chung và được công ty công ích thu gom xử lý.
Xử lý nước thải
Nguồn nước thải của công ty gồm nước thải sinh hoạt và nước thải gia công phôi. Nước thải sinh hoạt chủ yếu là nước từ căng tin và nước từ nhà vệ sinh, nước này được thải trực tiếp vào cống rãnh.
Điều nghiêm trọng là nguồn nước thải sản xuất, phát sinh từ các máy gia công kim loại, có chứa khá nhiều kim loại và dầu bôi trơn hoàn toàn không được thu gom, xử lý mà thải trực tiếp vào cống
Chương 5:
GIẢI PHÁP THU BỤI SƠN VÀ KHÍ ĐỘC TẠI CÔNG ĐOẠN SƠN GỖ.
Trong các ngành sản xuất sản phẩm phải trải qua khâu sơn thì khu vực sơn hầu hết đều chưa đảm bảo điều kiện lao động hợp vệ sinh. Trên thế giới công đoạn sơn sản phẩm rất được coi trọng không những về chất lượng sản phẩm mà còn đề cao vấn đề an toàn môi trường, sức khoẻ người công nhân.
Có nhiều phương pháp sơn được áp dụng để làm sản phẩm, chất lượng sơn đẹp hơn, đồng thời tiết kiệm sơn, đảm bảo sức khoẻ như sơn tĩnh điện, sơn phun bằng máy, sơn tự động, sơn bằng buồng sơn kín…. Tuy nhiên mỗi biện pháp chỉ được áp dụng cụ thể cho từng loại sản phẩm và tuỳ điều kiện sản xuất, khả năng đầu tư cho công nghệ mà mỗi doanh nghiệp áp dụng cho mình phương pháp khác nhau.
Trên thực tế các doanh nghiệp trong nước hiện nay, khâu sơn sản phẩm mới chỉ từng bước cải tiến để cạnh tranh cùng sản phẩm nước ngoài, nhưng vấn đề môi trường cũng chưa mấy được cải thiện, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Ở nhiều cơ sở sản xuất gỗ bụi sơn, khí độc từ dung môi pha sơn vẫn ở mức độ vượt tiêu chuẩn Việt Nam, vì chưa có hoặc hoạt động hiệu quả của hệ thống thông khí ở khu vực sơn. Ngoài ra các trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân còn thiếu, doanh nghiệp chưa quan tâm, nghiêm túc trong công tác an toàn lao động…Vì thế để giúp cải thiện khâu sơn sản phẩm, các doanh nghiệp thường đề xuất biện pháp thay đổi công nghệ. Xong dựa vào tình hình thực tế thì đó là sự thay đổi có vốn đầu tư lớn và là cuộc cách mạng của nhà máy. Chỉ một số doanh nghiệp đang phát triển tốt mới có thể thực hiện được.
Do vậy giải pháp tối ưu đáp ứng cho việc giảm thiểu độc hại trong môi trường lao động là cải thiện bằng kỹ thuật thu gom, giảm nồng độ ô nhiễm.
Hiện nay đối với khâu sơn có một số biện pháp như thông gió, cách ly khu vực sơn ra xa. Nhưng biện pháp này chỉ làm pha loãng nồng độ hoặc giảm mức độ tiếp xúc. Hiệu quả chưa cao. Bức xúc cho vấn đề này, người ta đã tìm ra biện pháp kỹ thuật mới, khả thi hơn đó là dùng màn nước kết hợp với quạt hút để thu bụi và hơi khí độc của sơn. Đây là thiết bị đơn giản, dễ lắp đặt điều chỉnh, gọn gàng phù hợp cho mọi diện tích nhà xưởng, hình thức sơn các sản phẩm khác nhau như kim loại, gỗ….Xong ở đề tài này trong quá trình thực tập tại cơ sở SX _ TM cơ khí Hồng Ký, cơ sở có sản phẩm làm
máy chế biến gỗ bán ra thị trường, cơ sở mở rộng sản xuất sản phẩm mới là mặt hàng gỗ, sử dụng chính máy móc công cụ của doanh nghiệp sản xuất. Hệ thống cải thiện bụi sơn đã mang lại hiệu quả cao khi áp dụng trong việc sơn gỗ tại công ty, làm giảm đáng kể lượng bụi và hơi độc cải thiện môi trường trong khu vực này khá tốt.
Phương pháp này không những áp dụng cho việc thu bụi sơn mà còn áp dụng để hút các loại bụi khác như bụi gỗ. Mặt khác với thiết kế của sản phẩm như hiện nay và nguyên tắc làm việc của khu vực sơn là kín, biệt lập thì phương pháp này sẽ mang lại hiệu quả cao nhất. Ngoài ra các sản phẩm gỗ khá nhẹ, là các chi tiết nhỏ lắp ghép lại với nhau, có thể tách rời, dễ dàng cho sơn dây chuyền bán tự động ở Việt Nam. Do vậy hệ thống thu bụi sơn này phù hợp cho các cơ sở chế biến gỗ ở Việt Nam như hiện nay.
5.1. KHÁI QUÁT VỀ SƠN.
Sơn là một hỗn hợp đồng nhất trong đó chất tạo màng liên kết với các chất màu tạo màng liên tục bám trên bề mặt vật chất. Hỗn hợp được điều chỉnh với một lượng phụ gia và dung môi tùy theo tính chất của mỗi loại sản phẩm.
5.1.1. Thành phần hóa học của sơn gỗ.
Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp chế biến gỗ thường sử dụng loại sơn PU dùng để sơn các sản phẩm.
Thành phần chính của loại sơn này gồm:
- Dầu sơn - Bột màu - Phụ gia - Dung môi - Chất làm khô
Dầu sơn.
Là chất kết dính cho tất cả các bột màu và tạo bám dính trên bề mặt vật chất. Nó đảm bảo khả năng bám dính và liên kết màng và độ bền màng.
Dầu để pha sơn màu gồm:
- Dầu trẩu sống - Dầu lai
- Nhựa thông đã tinh chế - Nhựa trám đã hút lấy xăng - Dầu xăng
- Thuốc chì - Thuốc sắt.
Bột màu
Nguyên liệu màu sử dụng trong sơn thường ở dạng bột. Chức năng chính là tạo ra màu sắc và độ che phủ cho sơn, nó còn ảnh hưởng đến tính chất màng như: Độ bóng, độ bền…của sơn. Màu của sơn do các oxit kim loại tạo ra.
Phụ gia
Là loại chỉ sử dụng với một lượng rất nhỏ nhưng làm tăng giá trị sử dụng, khả năng bảo quản và tính chất màng.
Dung môi
Là chất hòa tan hay pha loãng sơn. Ít có độc tố, khó cháy, khó nổ.
Loại dung môi thường được sử dụng là este (Butyl acete, Ethyl acete), Toluen, Benden, Axêtôn, dầu thông….Ngoài việc tạo màng, còn có tác dụng làm lỏng sơn, dễ quét, màng sơn mau khô.
Chất làm khô.
Chất làm khô là một chất xúc tác tạo điều kiện cho dầu và bột màu phản ứng hóa học nhanh, để tạo cho màng sơn khô nhanh. Chất xúc tác đó là những oxít kim loại như oxyt mangan, oxyt chì.
5.1.2. Công đoạn trong quá trình sơn gỗ.
Xử lý bề mặt gỗ Sơn hai lớp phủ.
Xử lý bề mặt gỗ:
Trong sản xuất và sửa chữa có hai loại sản phẩm cần phải xử lý bề mặt trước khi sơn, đó là sản phẩm sơn cũ và sản phẩm chưa sơn.
Đối với sản phẩm sơn cũ đầu tiên phải tẩy sạch màng sơn cũ bằng cách chà nhám sạch lớp sơn cũ không cần dùng hóa chất, sau đó mới làm sạch bề mặt sản phẩm.
Đối với sản phẩm mới, muốn có màng sơn được đẹp, bề mặt gỗ sau khi bào nhẵn cần:
- Chà các phần nhám và góc bằng vải ráp số 0 hoặc 1, phải xoa theo chiều dọc gỗ để không tạo vết xước trên mặt gỗ.
- Nếu bề mặt dính dầu mỡ thì tẩy sạch bằng dung môi.
- Lấp các khuyết tật của gỗ và trám các lỗ trên bề mặt.
Sơn lớp phủ
Sản phẩm gỗ dùng phương pháp sơn không cần sơn lớp lót mà sơn màu ngay. Để sơn được che phủ hết bề mặt sản phẩm và màu bền đẹp cần sơn từ ba lớp phủ trở lên.
Sơn dùng cho sơn gỗ là loại sơn gầy, ít dầu cho màng sơn mau khô, ít bị chảy, tạo cho màng sơn cò độ bóng tốt. Loại sơn phổ biến dùng trong sơn gỗ hiện nay là sơn PU.
5.1.3. Tác hại của các thành phần trong sơn đối với người lao động Sơn là một hỗn hợp các chất hóa học khác nhau, trong quá trình sơn thường phát sinh ra hơi dung môi và bụi sơn. Một số chất trong hơi và bụi sơn gây tác hại đến sức khỏe con người như:
- Hơi formandehit và dung môi có trong thành phẩn của keo có khả năng bốc cháy trong không khí, còn có thể gây rộp bỏng da.
- Đa số các loại dung môi đều có chất độc. Hơi của chúng có tác hại cho đường hô hấp, đường máu và tác dụng vào da gây bệnh ngoài da
- Trong sơn có chứa este nếu ở nồng độ cao có thể gây buồn nôn, ngạt thở dẫn đến ngất. Tiếp xúc với da làm cho da nổi mẫn đỏ dị ứng.
- Tiếp xúc với Toluen gây ra viêm giác mạc, khó thở, nhức đầu, buồn nôn. Nếu tiếp xúc trong thời gian dài dễ dẫn đến bệnh nhức đầu mãn tính, cả các bệnh về máu.
- Theo phương pháp đánh giá nhanh của tổ chức Y tế Thế giới thì hệ số ô nhiễm khi sơn đối với bụi sơn là 60 – 80 (kg/tấn), các hợp chất hữu cơ bay hơi (VOC) là 560 (kg/tấn).
Bảng 10:Hệ số ô nhiễm trong quá trình sơn
Loại sơn Hệ số ô nhiễm (kg/tấn sơn)
Bụi sơn VOC
60 - 80 560
- Từ hệ số ô nhiễm và lượng sơn tiêu thụ ta có thể tính được lượng bụi sơn thải ra trong ngày bình quân là 2.40 – 3.20 (kg/ngày), lượng VOC vào khoảng 22 (kg/ngày).
Bảng 11:Tải lượng các chất ô nhiễm
Loại sơn Tải lượng kg/ngày
Bụi sơn VOC
2.40 – 3.20 22
5.1.4 Biện pháp đảm bảo ATVSLĐ cho công nhân sơn.
Hiện nay hầu hết công nhân làm việc tại công đoạn sơn gỗ thông thường phải tiếp xúc với các yếu tố bụi và hoá chất sơn. Người lao động chỉ được trang bị các phương tiện bảo vệ cá nhân thông thường như khẩu trang, quần áo, găng tay….nhưng hầu hết không đạt tiêu chuẩn do quá mỏng và thưa.