CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG BA LAI, TỈNH BẾN TRE-
1.2. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI LƯU VỰC SÔNG BA LAI
1.2.1. Đặc đ iểm điều kiện tự nhiên
10 Lưu vực nằm ở phía Đông nam đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với toàn bộ đất đai của 4 huyện:
Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Bình Đại và thành phố Bến Tre có tổng diện tích tự nhiên là 133.875ha.
Phạm vi của lưu vực sông Ba Lai có tọa độ địa lý tự nhiên từ 9048' đến 10019'10"
vĩ độ Bắc; 106009' đến 1060 55' kinh độ Đông, được bao bọc bởi 3 sông lớn và hàng trăm sông nhỏ, kênh rạch khác được giới hạn bởi:Phía Bắc giáp sông Mỹ Tho, Cửa Đại; phía Nam giáp sông Hàm Luông; phía Đông giáp biển Đông và phía Tây giáp các huyện Chợ Lách, Mỏ Cày và Thạnh Phú.
1.2.1.2. Đặc điểm địa hình
Khu vực nghiên cứu có địa hình khá bằng phẳng, độ cao từ 0,5 - 1,5m, chiếm 75% diện tích tự nhiên có xu thế địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Khu vực giáp biển có xu thế nhô cao lên rồi thoải dần ra biển làm cho địa hình toàn khu vực có dạng yên ngựa. Vùng trũng nhất là 2 huyện Bình Đại và Ba Tri với cao độ bình quân 0,5 - 0,75m, vùng cao nhất là địa phận huyện Châu Thành, TP. Bến Tre, vùng Tây Bình Đại và Tây Giồng Trôm có cao độ trung bình từ 1.25 - 1.75 m. Vùng ven biển có cao độ từ 1.00 - 1.25 m địa hình thấp nhất, khu vực xã Đại Hòa Lộc và Bình Thắng của huyện Bình Đại, khu vực Lạc Địa huyện Ba Tri có cao độ 0.3 - 0.5 m. Tỷ lệ địa hình phân theo cao độ được thể hiện trong bảng.
Bảng 1.2: Phân bố diện tích theo các cấp cao độ (đơn vị ha)
Độ cao (m) Diện tích Tỉ lệ (%) DT vùng ngọt hóa Vùng mặn ven biển (Bình Đại – Ba Tri)
Tổng Ba Lai
Hình 1.4 Bản đồlưu vực sông Ba Lai
11
< 0,5 0,5 – 0,75 0,75 – 1,0 1,0 – 1,25 1,25 – 1,5
> 1,5
12723 19321 27930 25639 18550 12510 19577
8,0 15,1 20,5 18,5 14,7 8,0 15,2
12520 17100 22200 17270 12290 7650 11020
0 1520 4600 7643 2580 1540 1885
203 2221 5730 8369 6260 5860 8557 Tổng cộng 136250 100 100050 272768 36200
(Nguồn: Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, 2010) Lưu vực sông được chia cắt bởi nhiều kênh rạch với mục đích phục vụ cho việc vận chuyển nước và vấn đề giao thông thủy. Sông Ba Lai có chiều dài 55km đổ ra biển Đông theo hướng từ Tây sang Đông đi ngang qua trung tâm lưu vực sông. Vào mùa khô do lượng nước sông Tiền đổ vào sông Ba Lai nhỏ nên mặn xâm nhập sâu vào phía thượng lưu và vào các kênh, rạch nội đồng.
Sông Mỹ Tho - Cửa Đại và Hàm Luông là hai dòng chính chuyển một lưu lượng khá lớn của sông Tiền vào lưu vực sông Ba Lai. Ngày nay, do đoạn đầu nguồn của sông Ba Lai đã bị thoái hóa nên việc chuyển nước ngọt từ sông Tiền vào đầu nguồn sông Ba Lai hầu như không đáng kể, cho nên lượng nước ngọt sông Tiền chỉ còn đổ vào sông Ba Lai từ sông Mỹ Tho qua sông An Hoá và một phần từ sông Hàm Luông qua sông Bến Tre.
Chiều dài trung bình của các kênh rạch là từ 8 ÷15km tạo thành một mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc và đất đai trong lưu vực sông bị chia cắt thành nhiều khu vực nhỏ làm cho việc ngăn mặn và dẫn ngọt gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là trong mùa kiệt.
Xu hướng phát triển của các kênh rạch là chạy theo hướng Bắc Nam, chia lưu vực thành nhiều khu vực nhỏ. Nối liền hai sông lớn Mỹ Tho và Hàm Luông là sông An Hoá (từ sông Mỹ Tho đến sông Ba Lai) và đoạn nối tiếp là sông Bến Tre (từ sông Ba Lai đến sông Hàm Luông). Có thể gọi tắt hai sông này sông Bến Tre – An Hoá, không những là một trong những tuyến đường giao thông thủy quan trọng từ khu vực phía nam đến thành phố Hồ Chí Minh mà còn là tuyến dẫn nước ngọt chính từ sông Tiền vào vùng đồng bằng các huyện Châu Thành, Bình Đại, Ba Tri và TP. Bến Tre, vì vùng đầu nguồn sông Ba Lai đã bị thoái hóa.
1.2.1.3. Đặc điểm thổ nhưỡng
Lưu vực sông Ba Lai nằm trong đồng bằng châu thổ mới hình thành, do sự bồi đắp của sông Mêkông, thuộc dạng đồng bằng trẻ, có nhiều phù sa bồi, có tính thẩm
12 thấu mạnh. Về mặt thổ nhưỡng có thể chia thành 4 nhóm đất chính chiếm 85%, còn sông rạch chiếm 15% tổng diện tích tự nhiên.
Đất mặn: Có diện tích 59.187 ha (44.3%) được phân bố chủ yếu ở phía Tây lưu vực sông Ba Lai, trong đó phân ra:
- Đất mặn nhiều: có diện tích 3.790 ha (2.8%)
- Đất mặn trung bình: có diện tích 20.417 ha (15.3%) - Đất mặn ít: có diện tích 20.784 ha (15.5%)
Đất phù sa: có diện tích 39.262 ha (29.3%) được phân bố chủ yếu ở phía Tây huyện Bình Đại, Giồng Trôm. Trong đất này hình thành 2 loại:
- Đất phù sa bồi: phân bố chủ yếu ở ven sông phía Tây có diện tích 6.875 ha (5.1%);
- Đất phù sa không được bồi có glây: phân bố tập trung ở các vùng trũng nhất phía tây có diện tích 32.387 ha (24,2%)
Đất phèn: Có diện tích 10.068 ha (7.5%) được phân bố rải rác ở các vùng trũng trong đó phân ra:
- Đất phèn: có diện tích 2.783 ha, trong đó chỉ có 423 ha đất phèn hoạt động nông còn lại là hoạt động sâu.
- Đất phèn mặn: có diện tích 7.285 ha (5.4%) trong đó đất phèn hoạt động nông 2.284 ha.
Đất giồng cát: có diện tích 5.850 ha (3.7%) được phân bố rải rác ở phía đông sông Bến Tre – An Hoá có địa hình cao, thành các vòng cung có lưng quay về phía biển.
1.2.1.4. Đặc điểm khí hậu
Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng lại nằm ngoài ảnh hưởng của gió mùa cực đới, nên có nhiệt độ cao và ít có sự biến đổi trong năm, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 260C – 270C. Khí hậu chia thành 2 mùa rõ rệt:
mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Tháng nóng nhất là vào tháng 5 nhiệt độ 29,10C, tháng mát nhất là vào tháng 12 nhiệt độ khoảng 25,20C.
Khí hậu Bến Tre cũng cho thấy thích hợp với nhiều loại cây trồng. Ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm thuận lợi cho sự quang hợp và phát triển của cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên, ngoài thuận lợi trên, Bến Tre cũng gặp những khó khăn do thời tiết nóng ẩm nên thường có nạn sâu bệnh, dịch bệnh, và nấm mốc phát sinh, phát triển quanh năm.
Chế độ nhiệt:
Nhiệt độ trung bình năm giữa các khu vực trong vùng biến đổi tương đối ổn định, bình quân nhiệt độ cả năm 27,090C (năm 2002); nóng nhất là vào tháng IV:
29,10C, mát nhất vào tháng XII: 25,20C.
13 Kết quả quan trắc, trong thời kỳ 1991 ÷ 2010, xu thế biến động nhiệt độ ở Bến Tre bình quân là 0,0820C/năm, diễn ra không đồng nhất giữa các mùa (mùa khô và mùa mưa). Nền nhiệt độ vào mùa mưa và mùa khô có xu thế tăng cao từ 0,3 ÷ 1,70C.
Trong mùa mưa nền nhiệt độ tăng vào tháng VII, VIII khoảng 1,1 ÷ 1,70C. Vào mùa khô nền nhiệt độ tăng tương đối đều.
Trong kỳ khảo sát 1996 ÷ 2003, nền nhiệt độ ở Bến Tre trong 5 năm (1997, 1998, 1999, 2000, 2001 và 2002) có nhiệt độ trung bình cả năm vượt trên trung bình nhiều năm, các năm còn lại ở mức dưới trung bình nhiều năm trở xuống. Năm 2009, nhiệt độ trung bình của tỉnh là 270C và năm 2010 là 27,10C.
Bảng 1.3: Nhiệt độ trung bình (oC) tháng trạm Bến Tre Tháng
Năm 2000 2003 2005 2007 2008 2009 2010
I 26,1 25,3 24,7 25,7 25,7 24,1 26,1
II 26,2 26,4 26,1 25,5 25,7 26,2 26,1
III 27,5 27,8 27 27,6 26,8 28,2 27,4
IV 28,2 29,1 28,8 29,1 28,6 29 28,1
V 28,1 28 29 28 27,6 27 28
VI 27,6 28,3 28,1 28 27,7 28,3 27,7
VII 27,1 26,9 26,6 27,4 27,6 27,2 27,2
VIII 27,2 27,3 27,4 27,1 26,9 27,8 27,2
IX 27,3 27 27,1 27,1 26,5 27,2 27,4
X 26,6 26,6 27,2 27 27,3 26,9 26,8
XI 26,7 27,1 26,8 26,2 26,5 26,3 26,8
XII 26,2 25,2 25,4 26,2 25,7 26,3 26,4
Cả năm 27,1 27,8 27 27,1 26,9 27 27,1
Lượng mưa
14 Trong kỳ khảo sát 1991 ÷ 2009, lượng mưa trung bình năm của toàn tỉnh không cao so với cả nước, biến động từ 966mm ÷ 2.084,6mm, phân bố thành 2 mùa rõ rệt:
mùa mưa từ tháng V đến XI và mùa khô từ tháng XII đến tháng IV năm sau. Lượng mưa năm 2009 tại Bến Tre đạt được 1.317mm.
Gió
Trong mùa mưa, từ tháng V ÷ XI, gió hình thành theo hướng Tây và Tây Nam chiếm 60 ÷ 70%, tốc độ trung bình 2 ÷ 3,9m/s, tối đa 20m/s. Trong mùa khô có gió
"Chướng", hướng gió thống trị là Đông và Đông Bắc xảy ra từ tháng XII - IV năm sau.
Mặc dù tỉnh Bến Tre không bị ảnh hưởng trực tiếp các cơn bão và áp thấp nhiệt đới toàn khu vực Bắc biển Đông (ngoại trừ cơn bão số 5 xảy ra vào năm 1997) nhưng thời tiết cũng bị thay đổi đáng kể. Vào các thời điểm giao mùa mùa khô với mùa mưa và ngược lại xuất hiện các cơn gió xoáy làm nước biển dâng cao, tần suất xuất hiện ngày càng cao và đã gây thiệt hại lớn đối với cây trồng và vật nuôi.
Chế độ ẩm
Độ ẩm trung bình hàng năm ít thay đổi. Thống kê qua nhiều năm cho thấy độ ẩm trung bình là 80%. Tháng IV là tháng có độ ẩm thấp nhất trong năm (74,8%), tháng VIII có độ ẩm lớn nhất trong năm (83%). Nhìn chung không có sự chênh lệch lớn về độ ẩm, độ ẩm của các tháng mùa khô thấp hơn từ 5 ÷ 10% độ ẩm của các tháng mùa mưa.
Bảng 1.4: Độ ẩm trung bình nhiều năm tại trạm Mỹ Tho Thán
g I II III IV V VI VII VII
I IX X XI XII
Cả nă
m Độ
ẩm (%)
78, 7
77, 5
76, 0
74, 8
79, 0
81, 0
82, 0
83, 0
82, 0
82, 0
80, 0
80, 0
80, 0
Chế độ bốc hơi
Lượng bốc hơi trung bình nhiều năm đo bằng ống Piche tại Mỹ Tho là 1.117mm, bình quân là 3,3mm/ngày. Tháng III có lượng bốc hơi lớn nhất là 133mm, bình quân là 4mm/ngày. Tháng X có lượng bốc hơi nhỏ nhất là 72mm, trung bình là 2,5mm/ngày.
Bảng 1.5: Bốc hơi trung bình nhiều năm tại trạm Mỹ Tho ( mm/tháng) Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Cả
năm
15 Bốc hơi 111 126 133 129 93 87 90 90 75 72 81 90 1.117 1.2.1.5. Đặc điểm thủy văn, hải văn, nguồn nước
1.2.1.5.1 Đặc điểm mạng lưới sông rạch
Sông lớn:
Khu vực nghiên cứu đề tài có 3 sông lớn nằm trong hạ lưu sông Cửu Long chảy ra biển Đông là: Sông Mỹ Tho, Ba Lai, Hàm Luông với tổng chiều dài 232 km và sông Bến Tre - An Hoá dài khoảng 15 km. Các sông này nối với hệ thống kênh rạch nội đồng khá phát triển. Thông số của các sông lớn như sau:
- Sông Mỹ Tho-Cửa Đại: Là phân giới phía Bắc của vùng dự án có chiều dài 90 km, lòng sông rộng từ 550 2.300 m, cao trình đáy sông từ -7.0 -14m.
- Sông Ba Lai: Chảy theo hướng Tây - Đông qua trung tâm vùng Ba Lai có chiều dài 76 km, lòng sông bị thoái hóa rất nhanh sau khi có kênh đào Bến Tre - Chẹt Sậy – An Hoá cắt ngang qua. Từ ngã tư sông Ba Lai – sông An Hóa đến thượng nguồn dài 34km thì chỉ có 12km từ sông An Hoá lên phía thượng lưu cao trình đáy sông từ -4
-1m, còn lại khoảng 20km thì cao trình đáy sông là từ -1 +1,4m, chiều rộng lòng sông rất hẹp gần như bị thoái hoá hoàn toàn nên hầu như ghe thuyền không thể đi lại được. Vào mùa kiệt do lượng nước sông Tiền đổ vào sông Ba Lai nhỏ nên mặn xâm nhập sâu vào phía thượng lưu và vào các kênh, rạch nội đồng.
- Sông Hàm Luông: Là giới hạn phía Nam vùng dự án có chiều dài 72 km, lòng sông rộng và sâu, trung bình từ 500 ÷ 700 m, cao trình đáy sông từ -9.0 -13.0 m.
Sông nhỏ và hệ thống kênh rạch:
- Sông Bến Tre – An Hoá - Chẹt Sậy: Là sông đào nối giữa sông Hàm Luông với sông Mỹ Tho và cắt ngang qua sông Ba Lai theo hướng Bắc Nam thành trục giao thông thủy Quốc gia, chiều dài sông là 15 km, lòng sông rộng trung bình từ 200 ÷ 300 m, cao trình đáy sông từ -5.0 -10.0m, chỗ sâu nhất hiện tại tới -16.0m.
- Hệ thống kênh rạch nội đồng: phần lớn chảy theo hướng Bắc - Nam, trung bình cứ 1km có 1 cửa rạch, rộng từ 30 60 m và thu hẹp nhanh về phía nội đồng, độ sâu trung bình từ - 1,5 - 3.0m, tổng chiều dài gần 300 km.
Bến Tre là tỉnh duy nhất ở ĐBSCL có rất nhiều cửa sông lớn như cửa Đại, cửa Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên. Với hệ thống nhiều cửa như thế kết hợp với địa hình bằng phẳng, cho nên vào mùa gió chướng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc xâm nhập mặn vào sâu trong nội địa tỉnh. Vào mùa khô lượng mưa trong tỉnh hầu như không có hoặc rất thấp, lượng nước thượng nguồn về ít thì hầu như toàn bộ diện tích của tỉnh bị
16 nhiễm mặn cho nên các chế độ về thủy văn của tỉnh Bến Tre là khá phức tạp so với các tỉnh khác.
1.2.1.5.2 Chế độ thuỷ văn
Chế độ thuỷ văn trong khu vực nghiên cứu hàng năm bị chi phối mãnh liệt bởi chế độ thuỷ triều Biển Đông và dòng chảy thượng nguồn sông Mê Kông qua 2 sông Mỹ Tho – Cửa Đại và Hàm Luông.
Thuỷ triều Biển Đông có dạng bán nhật triều không đều với chu kỳ 24h50', chu kỳ nửa tháng 13 14 ngày. Ngày có 2 đỉnh, 2 chân, chênh lệch giữa 2 đỉnh triều khoảng 0.2 0.3m, chênh lệch giữa 2 chân triều khá lớn 1 2m.
Bảng 1.6: Mực nước bình quân tháng lũ lớn nhất Đặc trưng Trạm Bình Đại
Zmax (cm) Tháng
169 X
Bảng 1.7: Mực nước cao nhất năm theo tần suất thiết kế - Hmax (cm)
Đặc trưng
Trạm
Hbq H1% H3% H5% H10%
Bình Đại 168 203 194 190 18
Mực nước đỉnh triều bình quân ngày của hầu hết các tháng trong năm thường đạt trị số lớn hơn +1.0 m, tạo điều kiện tưới tự chảy thuận lợi cho các khu vực đất có cao độ thấp hơn +0.7 m.
Mực nước chân triều bình quân ngày các tháng IX, X ở Mỹ Tho thường đạt trị số lớn nhất trong năm, chỉ có Hmin < -50 cm, tháng IX có Hmin < -93cm, tháng X có Hmin < -80 cm, nên vùng dự án hầu như tiêu tự chảy quanh năm.
Biên độ triều giảm nhanh từ cửa sông lên thượng lưu, từ mùa kiệt sang mùa lũ.
Thống kê tài liệu thủy văn cho thấy trong mùa cạn, sông Tiền được phân phối 52%
tổng lượng nước từ thượng nguồn đổ về. Tài liệu thực đo mùa kiệt cho thấy lưu lượng chảy vào đồng bằng là 5.920m3/s, trong đó sông Tiền nhận được một lưu lượng là 3.078m3/s, tương đương với 52% và được phân phối vào sông Ba Lai như sau:
- Phân phối dòng chảy vào mùa khô: 59,0 m3/s tương đương với 1%.
- Phân phối dòng chảy vào mùa lũ: 240m3/sntương đương với 1%.
17 Khối lượng nước trên đây là nước ngọt, còn khi có tác động của thủy triều thì sẽ tạo thành nước từ mặn cho đến lợ.
- Phân phối dòng chảy vào tháng cạn nhất: Tháng IV là tháng có lưu lượng chảy vào sông Ba Lai thấp nhất, 17,9m3/s tương đương với 1%.
- Phân phối dòng chảy vào tháng có lũ lớn nhất: 300m3/s tương đương với 1%.
- Phân phối dòng chảy năm: 135m3/s tương đương với 1%.
Nguồn nước mặt:
Chất lượng nước rất kém do nhiễm mặn nên khả năng khai thác nước mặt phục vụ cho nông nghiệp và sinh hoạt lại rất hạn chế. Nước mưa là lượng nước mặt quan trọng bổ sung cho khu vực .
Xét về tổng quan, lưu vực sông Ba Lai có mật độ sông rạch tự nhiên và kênh mương khá dày đặc, diện tích đất sông rạch lên đến 1.728ha (chiếm 15,79% diện tích tự nhiên), đặc biệt chỉ trong phần huyện Ba Tri, tỷ lệ đất sông rạch lên đến 20,16%
diện tích tự nhiên, song nguồn nước có chất lượng để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt rất thiếu.
Hình 1.5: Kênh 2 chảy ra sông Ba Lai.
Nguồn nước ngầm:
18 Theo tài liệu nước ngầm của Liên đoàn Địa chất - Thủy văn (Bản đồ tỷ lệ 1/250.000) và kết quả khoan khai thác của chương trình nước sạch nông thôn, trong khu vực nghiên cứu nước ngầm được chia ra 2 loại: nước ngầm Pleistocen trên đất cát giồng có số lượng và chất lượng tốt, đảm bảo cho sinh hoạt. Nước ngầm tầng sâu khoan ở các vùng đất mặn có chất lượng rất kém, độ khoáng hóa cao, không sử dụng được cho sinh hoạt và trồng trọt.
Trong khu vực nghiên cứu, nước dưới đất được tồn tại trong các tầng chứa nước khác nhau. Chất lượng nước trong các tầng chứa nước này biến đổi rất phức tạp theo cả diện rộng cũng như theo độ sâu. Dưới đây là những tóm tắt về điều kiện địa chất và chất lượng nước ngầm ở trong vùng nghiên cứu.
- Phức hệ chứa nước lỗ hổng các trầm tích nhiều nguồn gốc Holoxen (QIV) - Tầng chứa nước Pliocen (m 42)
- Tầng chứa nước Pliocen dưới (m 41) - Tầng chứa nước Miocen (m 3)
Trong khu vực nước nhạt (M < 1.0g/l) chỉ phân bố chủ yếu ở huyện Châu Thành và phía Bắc, Tây Bắc TP. Bến Tre được tồn tại trong 3 tầng: Pliocen trên (m 42), Pliocen dưới (m 32)và Miocen (m 3), các khu vực khác nước ngầm đều bị nhiễm mặn.
Tuy nhiên nước ở cả ba tầng nước đều bị nhiễm sắt.